Hà Chính Bình

kỷ niệm chưa kịp đóng khung

xuân cố hương

 

Xuân cố hương


Tâm sự của người con trai miền Nam

bỏ xứ ra đi vào mùa xuân 1979

có người yêu còn ở lại Việt nam.


Em tiễn anh đi bỗng nghẹn lời

Mi sầu phủ tím bến hoang khơi

Mai đào héo nụ buồn ngơ ngác

Em khóc, mưa giăng kín mịt trời.


Đã mấy xuân rồi em biết không?

Thiếu em quán vắng rượu không nồng

Men đời nhạt nhẽo, tình hưu hắt

Trên bến chiều xưa em vẫn trông?


Đã mấy xuân rồi anh vắng ai?

Xót xa hương khói lạnh xuân đài

Không còn ngũ quả tay em xếp

Xuân thiếu tình quê, xuân sắc phai.


Đã mấy xuân rồi anh nhớ ai?

Vấn vương hò hẹn những canh dài

Hoa vàng nở thắm tình non nước

Tỉnh giấc xuân tìm một bóng mai.


Nay tiễn đông tàn xuân mới sang

Thương ai tuyết trắng rụng mơ màng

Đơn côi một bóng đời xa xứ

Khối tình xuân cũ vẫn đeo mang.


Em vẫn là em, xuân cố hương

Vẫn đang trinh trắng tuổi xuân hường

Ráng chiều còn đọng trong màu mắt

Bến cũ người xưa bao vấn vương.



    
              Hà chính Bình

                    Dec/1994


ba mươi năm một chiêm bao

 

         ba mươi năm

         một chiêm bao


Đêm đen.

Thành phố không đèn

trôi theo ký ức.

Căn gác xép hẹp

từng là ước mơ

bồng bềnh trong sương mờ.

Đôi bàn chân lạnh ngắt

không giầy, không tất

dẫm lên những ô gạch.

Ba mươi năm

tôi đánh mất

lá me rơi.

Ba mươi năm

tôi đánh mất

mảnh giấy làm đời

thuở trống chiêng.


Đêm đen.

Mặt người không đèn

chân trần dò kỷ niệm

ánh mắt thập thò nhập nhẹm

sau hàng cây âm u.

Khuôn mặt phảng phất nét xưa

hơi men phả vào mũi

"bạn đấy à

lâu không lên?"


Đêm đen.

Ngõ nhỏ không đèn

ngôi nhà kèn kẹt mọt gỗ

méo mó lệch lạc già nua

tiếng ru khàn ngái ngủ.


Đêm đen.

Chẳng đâu có đèn.

Tôi vẫn đi như thế

cùng mấy đứa trẻ lang thang

chìm sau góc khuất cuộc đời.


Vancouver

Jan. 12/010


màu xanh

 

      Màu xanh

        

Hà chính Bình

                 Tặng anh Phạm quang Hùng


Anh ngồi lặng nhìn tôi

Trong đêm đông lạnh giá

Không chút màu xanh

Vì thiếu ánh mặt trời.

Thở dài...

Thất vọng oằn theo khói thuốc

Giấc mơ nào day dứt chơi vơi

Ngày mai.

Chia tay để tìm hy vọng

Tìm màu xanh gắn lại cuộc đời.


Có lẽ.

Lúc lên chín, lên mười

Tìm trái bàng thơm trong kẽ lá

Mảnh trời xanh anh đã từng chọn đó

Biết ươm chín muồi chùm trái vàng tươi.


Anh mỉm cười, anh lại nhìn tôi

Một màu xanh trong ánh mắt.

                                      1983


giấc mơ thơ

 

hà chính bình


GIẤ́C MƠ THƠ


Liềm trăng gặt gió trên đồi

Không gian trọc lốc, tôi ngồi tôi mơ.


Tìm em trong vạn vần thơ

Nhấc lên một chữ, sương mờ bến sông

Chữ kia sao nhấp nhỏm lòng

Đợi người bên ấy còn hong tóc thề.

Nhà nghèo mái lá ven đê

Đón tình em thắm kịp về hoàng hôn.

Gieo vần em khéo tay thon

Vuốt mềm suối tóc, gửi hồn chiêm bao

Thơ đề mượn cánh hoa đào

Hàng trăm câu chữ lạc vào vườn xuân.

Bóng em thấp thoáng xa dần

Mới đây đã đấy/dấu chân/dạ sầu

Hỏi người em gái thơ đâu?

Thi nhân bỡ ngỡ, lòng nâu nẫu buồn.

Dẫu đời lắm thói bán buôn

Dư âm em vẫn còn vương cuối trời.


Liềm trăng gặt gió trên đồi

Không gian trọc lốc, tôi ngồi ngẩn ngơ.


vắng một muà sim

 

vắng một mùa sim


(nhớ Lạng Sơn 1967)


ta thầm hỏi sim sao không thấy

nắng hè chang chói nỡ quên sim?

Hương kia, sắc ấy đâu còn nữa

Vắng một mùa sim/Một mối tình.


Giữa đồi sim tím năm xưa đó

Gió lộng hồn sim, rung cánh trinh

Say hương, say sắc, say mùa nắng?

Ôm trọn chiều sim một bóng hình.


Năm qua, tháng lại, ngày xa mãi

Thiếu một mùa sim tủi với mình

Đất lạnh ở đây trời nhạt nắng

Làm sao ươm nổi một mùa sim.


Hà chính Bình

Vancouver 1983


DỨT LÒNG MÀ ĐI

 

                 Dứt lòng mà đi


                        
Tặng em TBH

 (Nhớ về đêm từ biệt vợ con cuối tháng 3/1979

 trước ngày trốn khỏi đất nước Trung Hoa)


Sáu năm qua.

Em mỗi cuối tuần hối hả

đầu đường đợi đón anh về

đầu tuần lặng lẽ tiễn anh đi.

dấu tay ăn mòn khung cửa.**


Một ngày cuối xuân

anh đưa em

sang bên trời phương bắc

được gần nhau

sao vẫn chuỗi ngày buồn

giữa bốn bức tường vôi quét dở.


Đêm nay

Lại một mùa xuân

Trái tim bầm rạn vỡ

Anh/một người chồng

để lại em và con gái nhỏ

lời biệt li

chìm vào gió

giữa hiu quạnh

giữa mênh mông.


Những ngôi sao đã trốn từ lâu

Chúng không thể dằn lòng

nhìn vào đôi mắt em mọng nước.

Hàng liễu rũ vào nhau thổn thức

Bầy chó biết điều không sủa nhắng đêm thâu.

Hai tay em lạnh cóng đan vào nhau

ủ vào nơi trái tim buốt giá.


Anh ghì̀ em vào lòng

tìm chút hơi ấm cuối cùng

phút giây giằng co lần lữa

Tia chớp đằng đông

Chẻ không gian hai nửa

Nửa cho kẻ  đi

Nửa cho người ở


Đường đời không ngả hẹn

Tình yêu em trên suốt chặng đường

Bụi nhuốm xám từng cọng tóc

Mi mắt chớp buồn

theo mỗi bước thê lương.


Ai đó nói rằng

Ta đã xa quê hương

Và lần này quê hương càng xa

Ai đó nói rằng

Ta đã xa quê mẹ

Và lần này ta xa quê cha.


Ai đó nói thêm

Nước mắt ta không còn đủ

Đọng lại một giọt mặn

                Đời ta không còn đủ

Chắp thành một mảng màu

Cho em.


Vancouver 03/05/09

Hà chính Bình


(**
Từ 1972 đến 1978 tác giả công tác xa nhà)


Lời trăn trối

 

  Lời trăn trối


                      Tác giả:  Hương Thu Huyền

.

    Nàng vẫn ngồi đó, trong một căn phòng nhỏ của bệnh viện. Đã mười hai giờ khuya. Một người đàn ông nằm trên giường, tóc tai bù xù, dính bết vào hai bên thái dương lõm sâu. Mắt ông ta nhắm nghiền, trũng xuống như hai cái hố tối om. Hai má hóp vào, tưởng chừng chúng có thể dính vào nhau được. Nếu nhìn, chẳng ai đoán được tuổi ông. Nàng ngồi bên giường ông và thổn thức. Người đàn ông ấy dường như chẳng cảm nhận được sự thổn thức của nàng. Hơi thở yếu khò khè qua máy trợ thở của ông đều đều, đơn điệu. Thỉnh thoảng nàng rút một tờ giấy từ hộp giấy trên bàn nhẹ thấm mồ hôi đang rịn ra trên trán ông.

    Nàng vẫn ngồi đó. Nàng cảm giác giấc ngủ đang đến và tất cả như chỉ là giấc mộng.

    Nàng còn nhớ như in là hình ảnh của một người đàn ông lao đến dũng mãnh với chiếc gậy base ball trên tay đã làm cho cả bọn nghiện dừng ngay hành động hãm hiếp tập thể lại. Nhanh như một cơn lốc, chàng kéo nàng đứng dậy và cùng nàng lao xuống cầu thang gỗ ọp ẹp, đẩy nàng về phía mấy chiếc xe con đang đậu trước ngôi nhà ba tầng cũ kỹ, bẩn thỉu nơi chàng cư ngụ ở tầng sát mái. Chẳng hề thốt một lời, chàng ra dấu bảo đưa chìa khóa xe cho chàng, nàng làm theo như một cái máy. Sau khi nàng chỉ xe của nàng, chàng ấn nàng vào xe, chàng ngồi trước tay lái, nổ máy và vọt thẳng. Xe chạy được năm phút, chàng chợt cất lời bằng tiếng Việt: " Nhà ở đâu?" Nàng ngỡ ngàng giây lát. Không ngờ người đàn ông này là người Việt. Nàng không trả lời ngay. Nàng kín đáo ngắm ân nhân của mình. Chàng gầy gò xanh xao, môi thâm tím, trán rộng, mặt vuông nhưng quá hốc hác. Chừng đó cũng đủ để nàng biết chàng là dân nghiện. Nhưng chàng có đôi mắt sáng. Có lẽ đôi mắt ấy đã làm cho nàng tin chàng là người tốt. Nàng trả lời: " nhà em Main, 54. Nhưng sao anh biết em là người Việt nam? " " Nhìn thì biết." Chàng cộc lốc.

   Sau khi trả lại nàng chìa khóa xe, chàng lững thững bước đi. Nàng chạy vội theo kéo tay áo chàng: "Anh về bằng cách gì?" "Bus". "Không về được đâu, bọn chúng sẽ trả thù anh đấy." Chàng giật tay áo ra và đi tiếp. Nàng khẩn khoản: "Anh nghe em, nhà em còn một phòng trống, anh có thể thuê lại. Chứ bây giờ anh về chỗ đó nguy hiểm lắm." Chàng nhìn nàng chăm chú: " Biết nguy hiểm sao còn làm." "Em không còn cách sinh nhai nào khác." Chàng quay ngoắt, bước đi. Nàng lại phải một phen tất tả chạy theo túm áo chàng lại: " Anh đã cứu em, anh là ân nhân của em. Em không thể để anh gặp điều gì bất trắc được. Em xin anh, em lạy anh. Anh nghe em đi." Hai hàng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt nàng. Chàng sững sờ. Không ngờ đời chàng còn có người quan tâm, lo lắng cho chàng đến thế. Từ cái ngày sa vào nghiện ng̣ập, chàng tưởng như đời bị xa lánh, hắt hủi, ruồng bỏ. Trước một người con gái với những giọt nước mắt chân tình, lòng chàng chợt rung động. Thương cho mình, thương cho người, chàng bất giác gật đầu. Từ đấy họ có cuộc sống khác trước. Ít ra họ cũng có hạnh phúc lứa đôi, tuy rằng nàng vẫn bán " trắng" và chàng vẫn là anh nghiện. Nàng đi giao hàng bây giờ có thêm chàng tháp tùng. Đôi lúc nghĩ lại, nàng không khỏi rùng mình cái cảnh nàng bị một bọn nghiện da trắng, da đen quỵt tiền rồi đè ngửa nàng ra để lột tiền và trang sức, còn toan hãm hiếp nàng.  Chàng đã xuất hiện đúng lúc. Nàng cảm thấy cuộc đời nàng không thể thiếu chàng. Nhưng chàng lúc nào cũng lầm lì. Lời nói của chàng chỉ là những câu nhát gừng, lẻ loi. Dẫu sao nàng vẫn thấy hạnh phúc bên chàng. Chàng chẳng bao giờ thổ lộ một chút nào về đời chàng. Ngay cái tên Việt của chàng nàng cũng không biết. Nàng chỉ biết người ta vẫn gọi chàng là John. Một đêm sau cuộc ái ân, chàng lặng lẽ châm điếu thuốc hút. Nàng áp sát mặt vào ngực chàng thủ thỉ: " Sao anh chưa bao giờ hỏi về đời tư của em?"  Chàng vẫn im lặng nhả khói. Nàng cũng chẳng cần câu trả lời của chàng. Nàng tiếp: "hôm nay em sẽ kể anh nghe đời em ở Việt nam ra sao." Nàng kể:

-         Quê em là vùng đất nghèo thuộc huyện Vĩnh Bảo tỉnh Hải Phòng, miền Bắc. Năm 1972 em tròn mười sáu tuổi. Người yêu em mười tám tuổi. Xã bắt anh ấy nhập ngũ. Bố mẹ anh ấy nói với xã: " nhà tôi mỗi nó là con một, phải để nó lấy vợ đã ". Thế là chúng em cưới nhau. Sau tuần trăng mật, anh ấy lên đường trong nỗi nhớ nhung, buồn tủi của cuộc chia ly đôi lứa. Trên con đường Trường sơn đầy máu lửa, anh vẫn thư từ đều đặn. Em theo dõi bước chân chồng trong đợi chờ đau xót và lo lắng. Tháng 5-1975, đất nước thống nhất. Anh vẫn có thư về. Em khóc nức nở trong vui sướng và chỉ còn chờ ngày đón chồng về. Em mơ tưởng đến ngày đó. Chúng em sẽ xây lên lâu đài hạnh phúc. Năm năm trôi qua, anh ấy vẫn không trở lại. Thư từ thưa thớt dần rồi bặt tin luôn. Nhưng em tin anh ấy sẽ trở về. Thêm năm năm nữa, vẫn bặt tin của chồng em. Lên huyện hỏi, không ai biết. Lên tỉnh hỏi, chẳng ai hay. Cho đến một ngày gần cuối năm 1985, một người bạn cùng làng và cùng đơn vị với anh ấy trở về, ái ngại cho em biết chồng em đã kết hôn với một người đàn bà ở Sài gòn có chồng ngụy bị cải tạo xa. Nghe tin như sét đánh bên tai, em choáng váng, đứng không vững và ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, em khóc hoài, khóc hủy như chưa từng được khóc. Mọi người khuyên can. Khi bình tâm trở lại, em không tin chồng em nỡ phụ bạc em như vậy. Em quyết định vào Sài gòn tìm chồng theo địa chỉ mà bạn anh ấy cho. Sài gòn tấp nập người xe. Em bơ vơ trên mảnh đất xa lạ. Trong lòng rối bời và sợ hãi. Sợ tất cả mọi người và nhất là sợ̣ một sự thật phũ phàng. Cuối cùng em đã đứng trước cửa tiệm vàng bạc. Cửa tiệm tuy không lớn nhưng khang trang, sáng láng. Đứng sau quầy hàng là một thiếu phụ trẻ đẹp, cỡ tuổi em. Em lấy hết can đảm bước vào. Nhưng khi giáp mặt với thiếu phụ, hai chân em run lên bần bật. Người đàn bà ấy nhìn em từ đầu đến chân rồi mỉm cười. Cố gắng lắm, em mới dám mở mồm hỏi: "Thưa chị. Ở đây có ai tên là Khoát không ạ?" Thiếu phụ trố mắt nhìn em một hồi, mặt chợt đanh lại day vào trong nhà gọi: " Khoát. Có ai tìm anh nè." " Ai đó Bích? Bảo họ chờ anh chút." Thế là đủ. Tất cả bỗng đổ sập. Trời tối sầm lại, đất chao nghiêng. Em loạng choạng bước đi không chủ đích, không mục tiêu. Trước mắt như sa mạc, không người. Em đi xa rồi ngoái đầu lại còn thấy anh ấy đứng ở cửa ngơ ngác nhìn quanh. Trở về Bắc, em cố quên quá khứ đau buồn để tiếp tục sống. Thủ tục ly dị đã được chính quyền xã giải quyết. Năm 1986 em theo người ta vượt biên sang Hồng kông.

Nàng kể xong, mắt đẫm lệ. Chàng hình như chẳng để ý vào lời kể của nàng. Chàng đã chạy ra góc nhà từ lúc nào và đang mải hít bột trắng vào mũi. Nàng thấy quai hàm chàng bạnh ra, thớ thịt trên khuôn mặt tái xanh giật giật liên hồi, mồ hôi trán vã ra, mắt trắng dã, mồm sùi bọt. Nàng hoảng hốt biết chàng dùng "trắng" quá độ. Nàng vội dìu chàng vào wash room để chàng nôn ra. Nhưng chàng gạt tay nàng. Chàng tự đi vào wash room một mình và đóng cửa lại, khoá trái. Nàng cảm thấy sốt ruột lo lắng vì chàng ngồi trong đó rất lâu và hoàn toàn im lặng. Nàng không dám gọi. Nàng biết rõ chàng vốn lầm lì và cục cằn. Cực chẳng đã, nàng ngồi ở sô pha chờ chàng vậy. Mệt quá, nàng thiếp đi. Mờ sáng, khi nàng thức dậy, chàng đã biến mất. Bức thư chàng để lại cho nàng vẻn vẹn vài dòng: " Em Chuyên. Anh quyết định đi cai nghiện và nhân đây anh khuyên em tìm việc mà làm, đừng dấn thân vào con đường thất nhân tâm và nguy hiểm nữa. Đừng tìm anh. Chào em. John." Toàn thân nàng rúng động. Nàng hớt hải lao đi tìm chàng.

Đã ba năm nay, nàng đi khắp các trại cai nghiện ở British Columbia. Nhưng chàng vẫn biệt tăm. Hiện nay nàng làm ở hãng hải sản. Vất vả, lương ít, nhưng nàng thấy an tâm hơn, không bị mặc cảm như xưa. Nàng vẫn da diết nhớ chàng.

Có một lần, vô tình nàng giở một tờ báo Việt ngữ ngay mục "nhắn tin". Lời nhắn đã đập ngay vào mắt nàng: " Chúng tôi nhắn tin cho chị Nguyễn thị Chuyên. Anh Hoàng đức Tín ( tức John ) hiện đang nằm điều trị tại bệnh viện điều trị ung thư Vancouver. Người nhắn tin : "Hội Người Việt Vancouver." Được tin, nàng tất tả đến ngay bệnh viện.

Ǹàng ngồi đó, ngay cạnh chàng. Đúng là chàng rồi. Bao năm kiếm tìm, không thấy. Khi tìm thấy chàng thì ôi thôi chàng ra nông nỗi này. Sao số kiếp đắng cay cứ đeo đẳng mãi những người khổ đau như chàng và nàng.

Nàng vẫn ngồi đó. Khóc âm thầm. Chàng cựa mình. Nàng vội vàng nhỏm dậy đỡ chàng. Bất chợt tay chàng tìm đến tay nàng và nắm chặt. Chàng thều thào, nàng phải ghé tai sát miệng chàng mới nghe rõ:

-         Anh có lỗi với em. Đã lâu chúng ta sống bên nhau, anh chưa một lần thổ lộ đời riêng của anh và ngay cả tên thật của anh, em cũng không được biết. Bởi vì anh không muốn nhắc lại một dĩ vãng đau đớn. Nhưng anh không ngờ... Cái năm em ở Bắc lấy chồng thì anh ở Sài gòn lấy vợ. Cái năm chồng em nhập ngũ thì anh cũng tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt. Vợ anh hồi đó còn là học sinh trung học, có tên Ngọc Bích, thật đẹp. Gia đình cô ấy không giàu nhưng khá giả, có cửa hàng vàng bạc nhỏ. 30 tháng tư 1975, miền Nam sụp đổ. Anh bị bắt cải tạo bẩy năm. Hết cải tạo, những tưởng sẽ xây đắp lại hạnh phúc. Nhưng không ngờ người vợ thương yêu của mình đã phản bội mình đi lấy một người lính Bắc Việt, kẻ thắng trận. Sau này bạn anh cho biết tên anh bộ đội cộng sản đó là Khoát. Anh không thể đối mặt với sự thật tàn nhẫn đó. Anh bỏ Sài gòn xuống tận Cà Mau sinh sống và tìm cách vượt biển. Dù đã được định cư ở Canada này, nhưng ám ảnh nỗi đau của quá khứ đã đẩy anh thành kẻ thân tàn ma dại. Khi em kể về đời em, anh đã nghe và bị sốc quá nặng. Có lẽ nào có sự trùng hợp kỳ lạ đến vậy. Nhưng cũng qua em, anh chợt thức tỉnh. Nỗi khổ đau không của riêng ai, dù Bắc hay Nam. Chúng ta đều là những nạn nhân của sự phản bội. Nhưng em ơi, dù rằng thân phận chúng ta lưu lạc xứ người, chúng ta cũng không thể vì khổ đau mà làm hoen ố phẩm giá và tự huỷ hoại đời mình. Anh tự cai nghiện thành công dù phải chịu bao đau đớn vật vã. Anh cũng tin rằng em sẽ trở lại với bản chất thánh thiện của mình. Nay anh bị ung thư phổi, là hậu quả của bao năm tháng mình đánh mất mình. Cho dù sau này, anh không còn trên cõi đời này. Nhưng linh hồn anh mãi mãi bên em.

Chàng cố nói một mạch, dù giọng chàng nhỏ, đứt quãng. Chàng mỉm cười như thỏa mãn với lời mình vừa nói. Mắt chàng từ từ khép lại. Ngón tay chàng buông lỏng bàn tay của nàng. Nàng vồ vội bàn tay xương xẩu của chàng và đặt lên môi mình. Nàng nấc lên từng hồi. Nước mắt nàng nhỏ từng giọt nóng hổi lên khuôn mặt lõm sâu, nhưng nụ cười vẫn còn đọng lại ở đấy.

                                                                Vancouver 28/12/2006


chặng đường không quên


chặng đường
không quên          


Tặng vợ Trịnh bội Hiền

(kỷ niệm tháng tư năm 1978 vụ người Việt gốc Hoa hoảng loạn
chạy sang Trung Quốc trước cuộc chiến Trung - Việt tháng hai 1979)


Em còn nhớ?
Mùa xuân năm ấy
hoa không kịp nở
nắng chẳng kịp về
anh vội vã dắt em đi.
 
Cột đèn bên đường
còng lưng âm thầm khóc
nước mắt chảy vàng mặt đất.
"Giã từ"
Lặng lẽ chào nhau.


Em còn nhớ?
Dọc ngang phố nhỏ
dấu chân mình in rõ thuở ban đầu.
Ngôi nhà đổ
Cầu thang chênh vênh gạch vỡ
đón em về
xao xuyến ánh chiều nghiêng.


Trong phút giây riêng
bóng ngả dài trên bức tường ám khói
chúng mình tuy không nói
vẫn biết
mảnh bom cài trên khung cửa
để lỗi hẹn ngày xưa.


Em còn nhớ?
Sân ga buồn
thiếu kẻ đón, người đưa
những bóng gầy
chen nhau vào vô định
ai với ai đây
phương trời số mệnh
không một lời khuyên
theo đúng nghĩa con người.


Em còn nhớ?
Dòng sông ngàn năm đó
mối hận thù
chứa chất tự lâu rồi
lịch sử đau thương
tưởng chìm sâu đáy khuất
xoáy nước cuồng khuấy đục nơi nơi.


Đám rêu vàng
bám trên đá cứng
bước chân mình lạnh ngắt trượt thời gian
một ngày đã qua
hay là vĩnh viễn
nơi chôn nhau cắt rốn
đã xa vời.


Em còn nhớ?
một nơi chưa từng biết
là quê hương tổ quốc mình sao?
Cánh đồng nước mênh mông biền biệt
nghĩ người thân lưu lạc chốn nào?


Gà gáy mòn đêm
thâu canh khắc khoải.
Giấc chiêm bao
thoang thoáng giọng ru hời.
Tiếng chó tru/tiếng con người
ngủ/thức.


Đòn gánh khua ngang
đêm rách từng mảng.
Không gian nào còn nguyên vẹn
Cho kiếp đời mang mang.


Hà chính Bình
Vancouver 19/09/2004


Con đường với bốn mùa

                    





 

Con đường với bốn mùa

                          

Con đường xuyên suốt bốn mùa

Đến lắm niềm vui

Qua nhiều nỗi nhớ

Trong chiêm bao

Tôi day mình trăn trở

Tỉnh giấc còn vảng vất tiếng người xưa.                      



Mùa xuân

Chồi non bỡ ngỡ vào đời

Bài ca sinh thành chưa kịp cất

Gió đã buồn đưa tiễn cánh hoa rơi.

Những cánh hoa vô tư bay lất phất

Có bao giờ biết đến kiếp luân hồi.



Con đường ngửa mình tìm hơi ấm

Ghi nhớ vào lòng những vết chân đi.

Mỗi mấp mô nếm mùi cỏ đắng

Úa một mùa đông

Gượng dậy lúc xuân thì.



Mùa hè

Giông đầu mùa

Sấm rền gõ cửa.

Nhà chao nghiêng

Cơn sốt chớp lòe.

Muôn nhát nước chẻ tua chiều u vữa

Giữa màu mưa thấp thoáng ai về.



Con đường cố vươn dài đỉnh dốc

Mệt một đời nhột nhạt bánh xe lăn

Nắng nung nồng bao lời thề thốt

Không gian buông thả cái khuôn trần.



Mùa thu

Hành trang xám

Treo ngang trời, cửa trước

Như đang chờ mang rước bước ưu tư

Lá thư vàng ai gửi thời li biệt

Rợp một mùa xào xạc tiếng giã từ.



Con đường vắng

Tiếng kêu "sầu ô thước"*

Mỏi mắt nhìn

Đâu thấy bóng chàng Ngưu.

Chân mây tím

Dáng hao gầy Chức Nữ

Còn nghĩa gì đâu giọt mưa chiều.



Mùa đông

Thời gian trắng

Đưa tôi vào cõi trắng

Giữa bao loài lạnh giá trắng lòng

Muốn giữ lấy tâm hồn phẳng lặng

Gồng thân run ghì lại với cuồng phong.



Con đường chợt già nua hiu hắt

Ngoảnh lại nhìn

Hóa trắng một giòng sông

Nhánh cây gầy bám sâu vào bờ đất

Giữ chút niềm riêng

Trong chốn không cùng

                         

                    Hà chính Bình

                    Vancouver 06/08/2005

                                                  

* "sầu ô thước" là tựa đề một bài ca thời tiền chiến (ô thước là cầu quạ)


thơ nào cho chúng tôi?

 

Thơ nào

cho chúng tôi?

Ai viết bao lời thơ

bờ môi hồng bỏng rát

mơn man tình dào dạt.


Ai viết bao lời thơ

vòng tay mềm xiết chặt

giữa nhạc chiều dìu dặt.


Ai viết bao lời thơ

nước mắt ai đã nhỏ

vì cuộc tình dang dở.


Ai viết bao lời thơ

giữa đêm dài mất ngủ

mộng chưa đầy đã vỡ.


Ai viết bao lời thơ...

Chợt thoáng nghe trong gió

" thơ nào cho chúng tôi

Những con người cùng khổ."


Vancouver 03/2008

Hà chính Bình


Đỗ Quyên

                 Đỗ Quyên

            Thơ Hà Chính Bình
 
“Tìm về quê hương” như thế nào? 

 
 

Thưa Quý vị và các bạn!

Tôi tin rằng, là những người lìa xa quê hương - với các lý do khác nhau – chúng ta mỗi người đều tìm về quê hương theo cách riêng của mình; bởi mỗi người có Trái tim riêng, có Bước chân riêng.

Cũng như một vài đề tài muôn thuở của văn học, “Tìm về quê hương” là đề tài hầu như thi sĩ nào cũng coi như nằm lòng.

Hà Chính Bình khi ở Việt Nam là một người Việt gốc Hoa, cựu sinh viên khoa Luyện kim trường Đại học Bách Khoa Hà Nội ( 1967-1972 ).Hiện tại Canada là người ly hương, và ở đâu anh cũng là nhà thơ. Vậy, với Hà Chính Bình - anh đeo trên mình sự xa quê hương tới 3 lần!

Chơi với anh hơn 10 năm qua tạp chí Người Việt Hải Ngoại, tôi cứ đau đáu tìm xem người thơ này đã “tìm về quê hương” như thế nào?

Thì đây, hôm nay, nơi trang 55 của tập sách “Hãy Để Chim Chóc Làm Đầy Bầu Trời” mà ta đang có trên tay, Hà Chính Bình hiện lên qua bài thơ mang tựa đề “đúng trăm phần trăm” như vậy - “Tìm về quê hương, với lời “Kính tặng hương hồn anh Trần Lực – anh yên nghỉ ở Quảng Đông, Trung Quốc).

Lỗ Tấn – nhà văn vĩ đại người Trung Hoa - có một câu tự bạch về thuật viết văn của ông, đại ý rằng nhân vật của ông có cái tai Quảng Tây, cái mũi Bắc Kinh, và giọng nói Hà Nam …

Bài thơ của Hà Chính Bình mang tính hiện thực cao khiến tôi – dù là một kẻ cũng làm thơ - cứ nhất mực tin rằng nhân vật “anh” trong bài thơ “trăm phần trăm” là Trần Lực. Tới mức Lỗ Tấn tiên sanh phải giật vai tôi mà nhắc: “Này, hậu bối, nhân vật “anh” đâu chỉ là Trần Lực, còn là cả Hà Chính Bình, và là cả chính chú mày nữa đó.” Tôi cho rằng cả Quý vị và các bạn cũng được Lỗ Tấn tiên sanh nhắn nhủ vậy!

Dù mỗi chúng ta có “gia tài” riêng, bảo vật riêng về “quê hương”.

Với Trịnh Công Sơn, gia tài đó là “khúc nhạc buồn”.

Với anh Trần Lực trong bài thơ, đó là:

“Thuở xưa

bố anh viết hai chữ ‘quê hương’

trên một tờ giấy

cất vào vali đã cũ

Rồi một ngày,

Ông dán tờ giấy lên tường,

bỏ đi

không lời nhắn nhủ”….

Bài thơ được dựng lên từ một tình tiết rất “siêu thực” và bí ẩn, nhưng trong lời kể mộc mạc, cụ thể. Kịch tính của toàn bài khởi đi từ đây. Và thơ tính của bài cũng là đấy!

Nhân vật “anh” trong bài thơ được truyền lại “gia tài” này khi

“mẹ anh đôi mắt vô hồn

Bàn tay lạnh ngắt

nắm chặt tờ giấy

hai chữ “quê hương’ đã nhàu”

và tới khi

“anh mày chết rồi

Trong túi áo anh mày

…………………

chỉ có tờ giấy nát

và hai chữ quê hương”

Hà Chính Bình sử dụng rất trung thành một thủ pháp làm nên vóc dáng đồ sộ của văn hóa và văn chương Trung Hoa: Sự thực hiện lời truyền của tiền bối. Người con trong bài thơ sau chặng đường tủi nhục và cơ hàn đã cố na thân về quê cha đất tổ. Anh Trần Lực đã yên nghỉ Trung Quốc. Đó là một cách lý giải trong văn học sự “hồi cố quận” của nhà thơ Hà Chính Bình: Chỉ có cái Chết mới là câu trả lời. Dùng cái Chết làm lời đáp trong văn học, đó là một thủ pháp rất phổ biến của nhiều tác giả xưa nay.

Về hình tượng thơ, trong bài này - giữa những cảnh quang trần trụi – Hà Chính Bình đã cho nổi lên những câu thơ siêu thực nhiều giá trị, như

“Người thân là gió hú, là mưa sa”

Hay

“Quê hương nào đến từ những đường cong.”

Về thể loại, bài thơ “Tìm về quê hương”, khiến tôi muốn gợi ý với Quý vị và các bạn rằng, một tác phẩm văn học thành công khi ta khó có thể biết nó ở thể loại nào. Nghe như nghịch lý! Vâng, tôi ngờ rằng chính Hà Chính Bình đã “chuyển thể” bài thơ này từ một truyện ngắn. Anh dùng các nhát cắt khắc nghiệt của thời gian:

“Rồi một ngày,

……………..

“Rồi một ngày,

……………..

để thơ hóa các tình tiết, các bối cảnh, các tình huống, các cao trào, các lớp nhân vật, các lời thoại… Tôi tin rằng mình đúng, vì nhà thơ Hà Chính Bình cũng song song là một nhà văn với nhiều truyện ngắn thành đạt.

Có những khuynh hướng lý luận cho rằng thể loại chỉ là phương tiện để sáng tác; Lại cũng có không ít trường phái muốn thể loại là mục đích. Và từ đó cũng sinh ra nhưng lý luận “nước đôi”. Với người sáng tác thì sao? Anh ta có thể “nhất biên đảo” – nghiêng về một phía. Anh ta cũng có thể không cần thuộc về hẳn một lý thuyết sáng tác nào, mà “đong đưa” giữa các thái cực. Hà Chính Bình, với “Tìm về quê hương” đã cống hiến chúng ta một bài thơ tự sự trong cái “đong đưa” tài ba như thế!

Cuối cùng, tôi muốn cùng Quý vị và các bạn thưởng lãm nhịp thơ tự do gập ghềnh trắc trở nhưng định hướng mà Hà Chính Bình thi hành qua bài thơ. Bước chân hồi hương của những kẻ nghèo đói, có gia cảnh bất hạnh rõ ràng khác với bước chân của dân lãng du.

“Yên tâm mà đi

Quê cha anh đấy

Củ khoai nướng dở

Rau nhặt ngoài đồng

Thê lương một bóng

Tro tàn đêm đông.”

Cái khác lớn nhất ở đây là kẻ khổ nạn đi để mà đến, dù có thể chết – vì đó là Sứ mạng của họ. Trong nghĩa đó, họ - những người Tìm Về Quê Hương - là những người hạnh phúc.

Cám ơn nhà thơ Hà Chính Bình! Cám ơn Quý vị và các bạn đã lắng nghe!

30-11-2007

Đỗ Quyên

 


TÌM VỀ QUÊ HƯƠNG





Tìm về quê hương

  Kính tặng hương hồn anh Trần Lực
(anh về TQ 1978, nay anh yên nghỉ ở Quảng đông)

                   

Tôi chưa kịp tiễn anh
chuyến đò chiều.
Hành trang buồn
anh mang được bao nhiêu?


Thuở xưa,
bố anh viết hai chữ “quê hương”
trên một tờ giấy
cất vào chiếc vali đã cũ.

 
Rồi một ngày,
ông dán tờ giấy lên tường.
bỏ đi không lời nhắn nhủ,
không câu giã từ
khi anh lên hai
anh trai tròn chín.


Rồi một ngày,
mẹ anh đôi mắt vô hồn,
bàn tay lạnh ngắt nắm chặt tờ giấy
hai chữ “quê hương” đã nhàu.
Hai thân gầy ôm nhau
tuổi mười ba và sáu.


Rồi một ngày,
bánh xe ba gác* lăn tròn.
Những giọt “quê hương”
rơi chấm phá trên đường
từ hai khuôn mặt ngu ngơ
nắng hun cháy mất tuổi.


Rồi một ngày,
tỉnh lại trong nhà thương.
Có người nói
anh mày chết rồi
tai nạn giao thông
trong túi áo anh mày
chỉ có tờ giấy nát
và hai chữ “quê hương”
.

Rồi một ngày,
bánh xe ba gác lại lăn tròn.
Chẳng ai nuôi không
người dưng nước lã.
Lòng thương xót không thiếu
nhưng miếng ăn không nhiều.
Mỗi quán nước nửa đêm là nhà.
Người thân là gió hú, là mưa sa.


Rồi một ngày,
người ta đến lùa những kẻ vô gia cư
đi trồng cói.
Bát ngát, mênh mông
đồng chua nước mặn.
Sóng cắn vào bắp chân
để lại vết răng phèn.
Người trồng bao thân cói
để đan bao giấc mơ.
Anh trồng bao thân cói
đan mảnh đời trơ vơ.


Rồi một ngày,
anh nhao nhác
như bao người nhao nhác
ghé vào tai nhau thì thầm.
Những bước chân vội vã
bạn thân trở nên xa lạ.
Tiếng còi tầu định kiếp long đong
"quê hương” nào đến từ những đường cong.


Rồi một ngày,
trên bờ đê ngàn ngạt gió,
nhìn lại phía mờ xa bên sông lấp ló
nón trắng quang dầu thấp thoáng lùm cau
Đây quê hương hay đó quê hương?
Bước mộng du nối tiếp trên đường
Không gian đâu còn chiều ngược lại.


Yên tâm mà đi
quê cha anh đấy.
Củ khoai nướng dở
rau nhặt ngoài đồng
thê lương một bóng
tro tàn đêm đông.


Hà chính
Bình
Vancouver 21/7/2007
------------------------------------------------------------------------
Chú thích: * Xe ba gác là loại xe chở hàng thô sơ ở Bắc Việt nam, có hai càng và hai bánh gỗ vành sắt, dùng người kéo và đẩy


Tràng Định - Lạng Sơn





Tràng Định – Lạng Sơn


Tóc trắng bồng bềnh phủ bạc vầng trán rêu xanh
Những hốc mắt đen ngòm vọng về quá khứ
Bình minh chợt rạng bên sườn đá lạnh
Có hong khô được nước mắt đêm?


Con đường đá dăm chênh vênh vực sâu
Bước chân lò dò qua từng khoảnh khắc
Anh mong có em.


Dòng sông Kỳ Cùng réo gọi ngàn năm lau lách
Sóng phiêu du thăng trầm cổ tích
Mỏi mòn trôi đâu thoát khỏi đất liền.*


Lạng Sơn, Đồng Đăng, Na Sầm, Tràng Định
Lồng lộng trời mây
Bâng khuâng nhớ biển.
 
 Tràng Định 1968

 Hà chính Bình


 Chú thích: * Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ Trung Quốc
                  chảy qua
Việt nam rồi ngược về Trung Quốc.


ĐỒNG MỘT XU


trái: Hương ; phải: Thu ; giữa: Huyền
Giáng sinh 2007

Đồng một xu

 Truyện ngắn của
Hương Thu Huyền
 
 Lão là ai?
  Lão thuộc dân tộc nào?
  Gia đình vợ con lão?
  Trên đoạn đường phố ngắn ba block, cư dân ở đây thường đặt những câu hỏi tương tự như trên với nhau về lão. Nhưng người thì lắc đầu, người thì rụt cổ, người thì vặn vẹo đôi vai và xòe hai bàn tay ra tỏ ý chịu. Cuối cùng, họ chỉ có thể khẳng định lão là dân Á châu.
 Đó là thời gian đầu khi lão xuất hiện ở đoạn phố này, cách nay khoảng hơn một năm về trước.
Lúc lão dọn về căn hầm của một ngôi nhà cũ kĩ. Ngôi nhà cũ đến nỗi, những người hưởng trợ cấp xã hội, những học sinh nghèo nhất cũng chẳng thèm ngó tới. Bởi vậy, căn hầm đã từng được đề biển cho thuê hàng năm rồi mà không ma nào lai vãng. Ấy vậy mà lão đến hỏi thuê. Và ngay chiều hôm đó lão dọn vào. Hành trang của lão chỉ là một cái vali rách, tàn tạ, rất hợp với dáng người lão và căn hầm.
Những người hàng xóm luôn hiếu khách. Trong mấy ngày đầu tiên lão dọn đến đây, họ mỉm cười, chào hỏi thân thiện mỗi khi lão đi ngang qua nhà họ. Nhưng lão chẳng bao giờ trả lời. Ngay cả ánh mắt lão cũng không hề dọi tới những khuôn mặt hoan hỉ chờ đón của họ. Đầu lão luôn cúi xuống, đôi mắt lão chỉ biết làm bạn với mặt đất, mồm lão lẩm bẩm như khấn tiên sư nhà lão.
  Có người tò mò hơn, tìm chủ ngôi nhà có căn hầm mà lão đang thuê để hỏi cho ra nhẽ. Chủ nhà là một người đàn ông Do thái, cũng chỉ biết làm mỗi một động tác là môi dưới bĩu chìa ra, dướn đôi lông mày, nhô đôi vai lên và nói một câu mà người tìm đến không chờ nghe: “Tôi không rõ, tôi chỉ biết tên ông ta là Ton Yen. Còn Ton Yen là Tàu, Đại Hàn, Nhật Bản, Việt nam và là gì gì đi nữa thì chỉ có ông ta, họ hàng bạn bè ông ấy và trời biết thôi.”
  Dần dà, mọi người cũng đến lúc chán lão, không quan tâm sự có mặt của lão nữa. Hình ảnh lão nhạt nhòa dần trong sinh hoạt hàng ngày của họ. Đúng vậy. Trên con phố nhỏ này, chỉ có lão và trời biết lão là người Việt nam, một người Việt nam duy nhất cư ngụ ở đây. Chưa hề có ai nhìn thấy bất cứ bóng dáng nào đến thăm lão cả. Điêu đó có nghĩa là lão hoàn toàn cô độc. Cái cô độc đang loi ngoi dưới hàng cây phong trơ trụi lá run rẩy hứng cơn gió lạc loài ẩm ướt, trong buổi sáng cuối thu như sáng nay.
 Sáng nay, như mọi sáng, đúng bảy giờ. Bất kể xuân, hạ, thu, đông, chỉ trừ ngày mưa bão lớn. Lão xuất hiện trên hè phố. Với cái dáng đi cố hữu, lê lết đôi giày vẹt đế, đầu cúi gập xuống, miệng lắp bắp. Ngôn ngữ khấn khứa của lão là một chuỗi âm thanh lục bục dồn ứ ở cổ họng. Dường như chúng chưa được thoát qua hai hàm răng vàng khè xin xỉn. Lão đang tâm sự với chính lão: “ Thời buổi sao mà đốn vậy. Loạn rồi. Nhiễu nhương quá chứ gì nữa. À này, sáng nay lúc sáu giờ, nghe loáng thoáng bản tin từ radio, về vụ cướp giật xảy ra ngày hôm qua. Lũ nhóc khốn nạn đến thế là cùng. Vì vài đô mà nỡ đánh bà lão đến bị thương ngay trên đường phố. Hừm...ai dạy chúng nó làm vậy nhỉ? À ...phải rồi. Xã hội, nhà trường, gia đìng chúng dạy chúng là cái chắc. Ờ...ờ, cũng khối người lớn làm gương cho chúng nó theo kiểu này chứ lị. Thảo nào. Hỏng, hỏng.” Lão mím môi, lặng lẽ bước lệt xệt như vậy rất lâu. Lão đang trầm tư mặc tưởng về xã hội, về con người và thời thế.
  Sáng nay không mưa, nhưng bầu trời đầy mây xám xị̣̣̣̣t. Những mảng mây uống no nước đang lặc lè đè xuống lớp không khí trên mặ̣t đất, làm cho cảnh vật như lùn đi, bè ra và lòng người thấy nặng nề hơn, ảo não hơn. Lão lắc lư cất từng bước. Ai vội gì thì vội, chứ lão chẳng việc gì phải vội. Bất chợt lão ngồi thụp xuống, chăm chú lấy ngón tay gạt mấy chiếc lá vàng rụng đã lâu, đẫm nước mưa từ mấy ngày trước để nhặt một vật gì nho nhỏ, dèn dẹt, tròn tròn. Lão đặt nó vào lòng bàn tay và thận trọng dùng ngón tay cái của bàn tay kia miết nhẹ lên bề mặt nó. Lão vui hẳn lên. Mép lão khẽ nhếch nụ cười thỏa mãn. Lão nắm chặt lấy nó và thận trọng đút cả bàn tay vào túi áo khoác đã sờn rách. “ Hà hà...đây rồi. Sao người ở đây phí phạm thế nhỉ?” Lão lại lẩm bẩm: “ Họ vất những đồng xu đi kkông hề thương tiếc. Họ làm như hào phóng lắm. Họ sĩ diện hão. Họ tỏ vẻ hào phóng trước mặt nhau. Nhưng sau lưng, họ tìm mọi cách để bới xấu nhau. Không khéo những đồng một xu chẳng là những điều xấu xa, nếu kẻ nào trong số họ cứ khư khư giữ chúng. Phải vứt chúng đi. Thật là xấu hổ, khi mua bán mà cứ phải chìa ra mấy đồng xu đỏ ối ra. Chẳng may bắt gặp người quen, chỉ có nước chui xuống đất. Họ không muốn mang tiếng là đồ kiết xác.”
  Lão dừng lại để ho khùng khục, khạc thật mạnh. Một búng đờm từ trong cổ họng lão bay ra, dính bẹt ngay xuống mặt đất. Lão khẽ lắc đầu và nối tiếp câu chuyện lão đang tâm sự dở: “ đó là một lũ ngu, lũ ấy chẳng hiểu gì sất. Đồng một xu tuy nhỏ nhoi, xấu xí. Nhưng giá trị của nó là giữ được sự nguyên vẹn của những đồng tiền khác. Không có nó, sự nguyên vẹn kia bị phá vỡ tan tác. Hèm... ví dụ à? Được...Này nhé, khi ta mua một món hàng, trị giá món hàng đó là một đô và một xu. Nếu ta có sẵn trong túi  một xu thì ta không phải phá lẻ đồng một đô khác, hoặc hai đô, năm đô v.v...thậm chí một trăm đô. Thấy chưa? Đơn giả như vậy đấy.” Lão khoái quá cười hưng hức. Kể cả khi cười, lão cũng không ngẩng đầu lên. Người lão chỉ đung đưa mạnh hơn. “ Ấy, tin hay không thì tuỳ. Ta nói cho biết thêm một điều này nữa nhé. Đồng một xu không chỉ giữ sự nguyên vẹn những đồng tiền đô, mà giá trị của nó còn có thể bảo vệ sự nguyên vẹn một nền văn hóa hay, một đạo đức tốt, một thuần phong mỹ tục của một dân tộc.” Nói đến đây, lão chợt dừng lại, trầm ngâm. Đôi mắt lão vẩn lên những tia buồn xa xăm. Lão thở dài: “ nó còn bảo vệ sự nguyên vẹn của một mái ấm gia đình nữa.” Lão thì thầm như rên rỉ.
  Năm 1934, Tôn Yên được sinh ra trong một gia đình còn mang nặng nền nếp nho giáo ở làng Vân vùng Kinh Bắc. Bố anh là một người có vốn nho học cơ bản, đồng thời ông có bằng trung học Pháp Việt. Ông từng làm thầy ký cho một cơ sở buôn bán lâm thố sản ở phủ Từ Sơn. Vốn có cảm tình với những người Việt Minh chống Pháp, ông ngấm ngầm hoạt động cho họ. Không bao lâu, ông bị Pháp bắt. Sau đó chúng thả ông ra vì không đủ chứng cớ để buộc tội ông. Cũng từ đấy ông bị mất việc. Trở về quê sống với vợ con, ông trở thành một người thất chí. Nhà ông thuộc loại trung lưu ở nông thôn, có vài mẫu ruộng cho tá điền trong làng cày cấy mướn. Mẹ Tôn Yên là một người đàn bà không hề biết việc đồng áng.
  Từ ngày chồng thất nghiệp, bà tần tảo chạy chợ từ sáng đến chiều tối. Bà nấu chè, đồ xôi, gói ít bánh giò đem ra chợ bán. Bà thương yêu chồng con rất mực. Bà chỉ cần nhìn vào đôi mắt của chồng là bà thấu hiểu nỗi băn khoăn, day dứt của người đàn ông thất chí. Bà thường an ủi ông bằng những cử chỉ âu yếm, nhẹ nhàng mà tha thiết. Bà rất tằn tiện. Thời bấy giờ một hào chỉ cũng đã là to. Bà chạy chợ cả ngày may lắm cũng lời được một hào. Những đồng hào, xu được buộc thật kỹ trong cái bao tượng quấn chặt quanh bụng bà. Chiều nào cũng vậy, khi đã bán hết hàng, bà cẩn thận lần cởi bao tượng để nhặt vài đồng xu, tính mua cho ông một be rượu nhỏ được nút bằng lá chuối khô (rượu làng Vân có tiếng là ngon), vài bìa đậu phụ rán vàng, hoặc có hôm là một gói lòng lợn, gan lợn luộc. Bà cũng không quên mua mấy cái bánh đa vừng giòn tan, vài cái kẹo lạc, kẹo vừng cho lũ trẻ. Bà thận trọng treo be rượu ở đầu đòn gánh, xếp món nhắm của chồng, quà bánh của con vào cái thúng không. Niềm vui của bà nhẹ nhàng mà lớn lắm. Bà lâng lâng, xốn xang theo từng nhịp bước, tưởng tượng lũ trẻ ùa ra đầu ngõ đón mẹ ồn ào, náo nức. Chúng hí hửng biết bao khi nhận phần quà từ tay bà. Chúng nhảy tung tăng, đem quà khoe nhau, dứ nhau, rồi cãi nhau ỏm tỏi, chí choé. Còn chồng bà sẽ tủm tỉm cười, mắt hấp háy khi nhìn thấy be rượu toòng teng ở đầu đòn gánh. Bà nhìn thấy rõ sự thích thú của ông khi ngồi vào mâm cơm, tay cầm be rượu một cách trịnh trọng, khe khẽ rót vào cái chén con, không để rơi ra một giọt nào. Ông tợp một hớp nhỏ, rồi khà một tiếng khoái trá. Tay nâng đôi đũa, gắp một miếng lòng lợn hoặc gan lợn, có lúc là miếng đậu rán chấm mắm, ông từ từ đưa lên miệng nhai khẽ khàng, từ tốn để thưởng thức hết cái ngon, bùi, ngọt của nó. Ông vừa nhắm, vừa ăn và vừa nhìn bà trìu mến. Bao nhiêu cực nhọc ban ngày tiêu tan hết, bà thực sự sung sướng trong cái giản đơn mà sâu đậm tình nghĩa vợ chồng, cha mẹ và con cái.
  Tôn Yên có người chị cả, hai anh trai và cô em út. Gia đình anh tuy không giàu, nhưng bố mẹ anh lo cho con cái đều được học hành. Hạnh phúc đơn sơ, nhỏ nhoi đó tưởng như sẽ được lâu dài. Cho đến một ngày đầu đông năm 1942, bố anh đi biệt tích. Hai năm sau, có người đưa tin bố anh đã chết bởi bệnh sốt rét rừng sau nhiều ngày lặn lội hoạt động chống Pháp cùng với các đồng chí Việt Minh của ông. Mẹ anh quá đau đớn, khóc không thành tiếng. Không đêm nào bà có thể chợp mắt được. Nhưng bà không muốn các con nhìn thấy nỗi đau tột cùng của bà. Vẫn dậy rất sớm như thường lệ, sắp xếp hàng vào hai chiếc thúng, bà lặng lẽ đẩy cửa bước ra khỏi nhà khi màn đêm vẫn còn phủ kín xóm nhỏ. Những bánh đa, kẹo lạc, kẹo vừng vẫn được bà mua về cho các con. Năm anh chị em Tôn Yên vẫn cắp sách đến trường hàng ngày.
  Họ lớn lên trong sự biến động của đất nước. Tháng tám 1945, cách mạng tháng tám bùng nổ. Chị và hai anh của Tôn Yên bỏ học. Theo tiếng gọi của Việt Minh, họ tham gia đoàn thanh thiếu niên cứu quốc. Đầu năm 1946 hai người anh gia nhập Vệ quốc đoàn rồi Nam tiến. Tôn Yên và em gái ở nhà với mẹ, vẫn chịu khó học hành. Anh học giỏi, luôn đứng đầu lớp. Hết bậc tiểu học, anh được mẹ gửi ra Hà nội học. Năm 1953 anh tốt nghiệp trung học Pháp Việt ở Hà nội.
Cũng chính năm đó, phong trào cải cách ruộng đất xảy ra khốc liệt tại quê anh. Mẹ anh vì vài mẫu ruộng mà trở thành địa chủ bóc lột. Tá điền lôi bà ra giữa đình làng đấu tố. Nhưng điều đau đớn nhất cho bà là người con gái  lớn của bà chỉ vào mặt bà nhiếc móc, chửi bới thậm tệ. Đứa con gái ấy đã từ bỏ tình mẫu tử, không nhận bà là mẹ của nó nữa. Quá uất, bà lâm bệnh. Mấy tuần sau bà mất, để lại đứa con gái út không nơi nương tựa. Tôn yên được tin dữ, anh như điên , như dại. Anh lồng lên muốn lao về ngay quê. Mấy người bạn thân của anh phải vất vả lắm mới giữ được anh lại. Bởi lúc bấy giờ, đường về quê anh rất nguy hiểm. Thời gian hờ hững trôi, Tôn Yên thương em mà không làm sao được. Để kiếm sống, anh làm gia sư cho một số gia đình giàu. Tháng mười 1954, quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội. Anh vội vã trở lại làng Vân đón em gái ra Hà Nội. Tiền anh kiếm được bằng nghề dạy học tư không đủ để hai anh em sống. Không lâu sau, em gái anh cũng làm con sen trong một gia đình khá giả. Đầu năm 1955, gia đình kia dọn xuống Hải Phòng. Em gái anh theo họ. Mấy tháng sau, anh nghe tin em gái di cư vào Nam cùng với gia đình đó. Nỗi buồn lại gậm nhấm tim anh. Anh trở thành con người trầm lặng, tránh gặp bạn bè. Đến năm 1957, anh được tuyển vào khoa lý trường đại học Tổng Hợp Hà Nội.
  Mấy năm đầu mới tiếp quản thủ đô, chính phủ Việt Minh không đủ con em thành phần công nông cốt cán tốt nghiệp trung học phổ thông. Bởi vậy, con em thành phần tư sản, địa chủ vào học các trường đại học chuyên nghiệp dễ dàng. Tôn Yên tỏ ra là một sinh viên xuất sắc. Tính anh hiền nên được thầy yêu, bạn mến. Đời sinh viên quá nghèo, tiền trợ cấp học bổng không đủ ăn, chứ đừng nói đến tiền thuốc men khi đau yếu. Một lần anh bị viêm bàng quang, bác sĩ cho biết anh phải tiêm thuốc kháng sinh. Nhưng tiền đâu, thuốc lại quá đắt. Từ phòng khám đi ra, anh rầu rĩ ôm bụng. Chợt mắt anh sáng lên khi nhìn thấy người chị cả của anh sánh vai cùng một người đàn ông mặc quân phục quân đội nhân dân Việt Nam. Anh lớn tiếng gọi. Chị anh và người đàn ông quay đầu lại. Chị nhận ra anh, miễn cưỡng kéo theo người đàn ông đi về phía anh đang đứng chờ. Chị giới thiệu người đàn ông với anh. Qua đấy anh mới biết chị giờ là cán bộ phụ nữ huyện Từ Sơn. Còn người đàn ông là thiếu tá cục hậu cần, chồng chị. Khi biết anh ngỏ ý muốn vay ít tiền chữa bệnh, chị lạnh lùng nói lảng sang chuyện khác và kéo theo chồng vội vã từ biệt. Anh nhìn theo vừa ngạc nhiên, vừa xót xa cho thân phận mình. Năm 1962, anh tốt nghiệp loại ưu và được phân công tác về bộ môn vật lý thuộc cơ quan nghiên cứu khoa học nhà nước (sau này là viện vật lý). Trong quá trình công tác, anh là một nhân viên cần mẫn, giỏi chuyên môn. Nhưng tên anh không bao giờ nằm trong danh sách nghiên cứu sinh sang Liên xô học ở viện hạt nhân nổi tiếng Đúp na. Sau này anh mới rõ nguyên nhân sâu xa là lý lịch của anh không hề đề cập đến số phận của người em gái, một dấu hỏi đã được tô thật đậm trong hồ sơ cá nhân anh nằm ở bộ công an. Là một nhà vật lý lý thuyết bị hạn chế trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý hạt nhân, anh vô cùng thất vọng. Vì yêu nghề, anh vươn lên bằng cách tự nghiên cứu. Chuyên đề anh đặt ra: “ lực hấp dẫn giữa các hạt cơ bản trong hạt nhân nguyên tử ”. Anh đã trở thành tác giả của một phương trình tích phân mười lăm lớp. Anh mừng rỡ. Nhưng công trình đó bị lãnh đạo và đồng nghiệp vứt xó và lãng quên dần. Quá chán nản, anh buộc phải gửi đăng trên một tạp chí nguyên tử của Liên Xô. Mấy tháng sau ở Liên Xô, người ta biết đến anh như một giáo sư Việt Nam giỏi về ngành vật lý nguyên tử. Trớ trêu thay, vì bài báo khoa học ấy, anh đã bị phê bình kỷ luật vì tội tiết lộ tài liệu khoa học bí mật của nhà nước. Anh bị chuyển công tác về giảng dạy vật lý ở trường đại học Bách khoa tại chức Hải phòng. Mười năm sau, anh kết hôn với một cô giáo trẻ cùng trường. Họ có với nhau một đứa con trai kháu khỉnh. Hạnh phúc đến với anh lớn quá sức tưởng tượng và mong ước làm cho anh choáng ngợp. Anh tạm quên sự bất công mà xã hội dành cho anh trong một thời gian dài. Tháng tư năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất. Anh xin phép nhà trường và chính quyền địa phương vào Nam để tìm gặp lại người em gái sau nhiều năm xa cách. Đơn xin của anh bị khước từ. Vì lòng thương nhớ em, anh vào Nam bằng giấy tờ giả. Đất lạ, người lạ. Địa chỉ em gái do anh nghe mong manh mà có, cho nên không chính xác. Mấy tháng trời lang thang nơi phù hoa đô hội, số tiền dành dụm bao năm anh tiêu hết mà tin em gái vẫn biệt tăm. May mắn anh gặp lại người bạn cũ thời ở Hà nội trước năm Việt minh tiếp quản thủ đô. Người bạn cũng không biết gì về em gái anh, nhưng ít ra anh ta cũng giúp anh một số tiền khá để anh trở về Bắc. Về đến nhà, anh mới biết nhà trường đã thi hành kỷ luật vắng mặt anh về tội trốn vào Nam khi không được phép của chính quyền và nhà trường. Anh bị đuổi việc. Kinh tế gia đình trở nên túng quẫn. Đồng lương ít ỏi của vợ không cáng đáng nổi sinh hoạt hàng ngày. Anh quyết định dùng số tiền bạn giúp còn lại để vào Nam mua hàng ra Bắc bán, đồng thời có cơ hội tìm em gái. Được vài chuyến thu nhập cũng khá.
  Những đợt dân bỏ nước ra đi bắt đầu được tổ chức vào năm 1978 ở Nam, và người Hoa ở Bắc ồ ạt về Trung quốc vì sự hục hặc chính trị giữa hai nước Việt nam, Trung quốc. Một số người Hoa trong Nam tìm đường ra Bắc để vượt biên qua ngả Trung hoa. Được sự ủy thác của bạn cũ trong Nam, Tôn Yên dẫn một số người Hoa ra Bắc. Việc làm này trót lọt và anh được trả công xứng đáng. Nhưng đợt chuyển người ra Bắc kế tiếp, anh bị bắt. Bạn anh chạy chọt, hối lộ để bảo lãnh anh ra. Anh trốn về Bắc. Đầu năm 1979, chiến tranh biên giới Hoa –Việt bùng nổ, người Hoa ở Bắc cũng như Nam ùn ùn ra biển. Ở Bắc họ đi sang Hương cảng. Ở Nam họ đi tới Thái lan, Mã lai, Nam dương, Tân gia ba. Nhân cơ hội này, anh mang vợ con vượt biển tới Hương cảng. Cuối năm 1979, gia đình anh định cư ở thành phố Vancouver Canada. Anh đã tìm thấy tự do ở một đất nước tươi đẹp, đầy ắp nhân đạo, cưu mang gia đình anh và rất nhiều gia đình Việt nam khác. Anh tâm niệm sẽ mang hết khả năng, vốn học thức về vật lý lý thuyết của mình cống hiến cho mảnh đất lành chim đậu này. Anh miệt mài trau dồi Anh ngữ với tấm lòng hồ hởi. Khi Anh văn đã khá, anh tự tin vào sức mình, lao đi tìm về với ước mơ ngây ngất. Nhưng hình như ở đây, không ai quan tâm đến bầu nhiệt huyết của Tôn Yên cả. Họ thờ ơ với kiến thức của anh đến kỳ lạ.
  Lão miên man nhớ lại quãng đời thăng trầm xưa  mà quên mất lão đã vòng đi vòng lại cái phố nhỏ này biết bao nhiêu lần. Lão lại thở dài thườn thượt. Con người lão như teo tóp hơn một chút, dáng đi của lão như lệch lạc hơn, khuôn mặt lão như méo mó hơn, dị dạng khó coi hơn. Cuốn phim đời lão vẫn cứ chạy rèn rẹt trong hộp sọ lão.
  Trong lúc Tôn Yên đang chán cho cái sự đời, một vị người Canada gốc Anh là một thành viên trong nhóm bảo trợ gia đình anh, giới thiệu anh với một vị giáo sư vật lý của trường đại học UBC. Trao đổi với anh vài giờ, vị giáo sư nhìn nhận học thức uyên bác của anh và ông ngỏ ý muốn anh giúp việc cho ông ở phòng thí nghiệm vật lý của trường. Anh mừng lắm. Đã có điểm khởi đầu, sau này chắc cũng ổn thôi, chịu khó nghiên cứu thêm để bắt kịp kiến thức hiện đại. Thế là anh đã có việc làm, tuy không đúng nghề lắm nhưng ít ra cũng là một cơ hội, vả lại gia đình anh đang cần tiền để sinh sống. Vừa làm, anh vừa tranh thủ thời gian rỗi đến thư viện nhà trường đọc thêm sách. Lúc nào anh cũng có một quyển sổ tay bên người, chi chít những phương trình toán học hình cổ ngỗng. Lương nhà trường trả anh cũng khá, cuộc sống gia đình đã ổn định. Hàng xóm Tây, Tàu  mừng thay cho gia đình anh. Một số người Việt định cư quanh đấy cũng vui vẻ chúc tụng anh. Họ quý mến lẫn cảm phục anh nữa.
  Hai năm trôi qua thật nhanh. Anh bổ sung thêm vào chuyên đề anh đã từng theo đuổi ở Việt nam. Anh viết công trình đó bằng vốn Anh ngữ của mình. Anh say mê đến độ có thể nổi cuồng lên mỗi khi anh phát hiện ra một điều mới mẻ. Anh trân trọng trao bản thuyết minh công trình vào tận tay vị giáo sư khả kính. Thương thay cho một tài năng đất Việt, một con chiên ngoan đạo của một tôn giáo vật lý lý thuyết, anh đâu có thể ngờ rằng công trình đầy khát vọng của anh vĩnh viễn nằm trong góc tối nào đó và mục nát dần trong tầng hầm của ngôi nhà bề thế. Chị vợ trẻ của anh giờ trở nên vênh váo với mọi người. Chị khẳng định với họ rằng vị trí của chồng chị hiện nay là một trong những nhà vật lý lý thuyết hàng đầu của hoàn vũ. Vợ anh đang kiêu căng trên nỗi đau của một nhân viên chuyyên xếp đặt những thiết bị thí nghiệm vật lý cho sinh viên thực tập ở một trường đại học. Anh đã hiểu anh đang là một kẻ hoàn toàn thất bại. Nhưng anh chuyển hy vọng theo một hướng khác. Anh lao động cần cù hơn nữa, cuộc sống giản dị hơn nữa. Anh chắt chiu dành dụm cho tương lai của đứa con trai. Đối với anh, kể cả những đồng xu nhỏ nhất cũng sẽ rất tuyệt vời khi chúng biết đóng góp vào cái trương mục mà anh đã dành riêng cho con. Vâng, thằng nhỏ, cái thằng Ân ấy mà, nó cực kỳ thông minh, nhất định nó sẽ là một con người xuất chúng. Nó sẽ đạt được niềm vinh quang mà cả một đời bố nó say mê kiếm tìm. Anh thầm nhủ như vậy.
  Thêm hai năm nữa ở xứ người. Một ngày đầu hạ, từ trường anh trở về nhà với vẻ mặt ủ rũ, báo cho vợ hay anh đã bị thất nghiệp. Thất thần, chị vợ lặng tăm trong vài phút, rồi như một người phát rồ, chị vừa khóc vừa lu loa “ anh là một thằng vô tích sự, bất tài, không bằng thằng thợ lắp ráp xe đạp, thằng làm nghề phân phối tạp chí khiêu dâm ở nhà bên kia”. Anh nghẹn ngào, cố gắng giải thích cho chị hiểu sự cắt giảm ngân sách chi tiêu của nhà trường dẫn đến việc cắt giảm nhân viên, và hậu quả của nó là anh khỏi phải đi làm bắt đầu từ tuần sau. Chị vợ gầm lên. Chỉ chẳng cần phải hiểu chuyện đó. Chị chỉ cần biết lấy tiền ở đâu ra để thanh toán cho thầy dạy khiêu vũ và vài cái bill trả visa card, master card cho đợt sắm nước hoa, phấn son tháng trước. Thì ra bao lâu nay, người vợ yêu quý của anh đang ném tiền vào chỗ ăn chơi của đám người chưa là trưởng giả đã học làm sang. Đám người ấy luôn đam mê những tiệc tùng thâu đêm suốt sáng. Họ cuồng quay trong những điệu vũ thác loạn. Trẻ chẳng nói làm gì, ngay cả những lão, những mụ ở tuổi làm ông bà nội ngoại mà vẫn cặp kè dìu dặt, ngoáy mông, uốn éo cho say cho mệt rồi ôm nhau ngủ, bất kể lũ con cháu giương mắt nhìn. Họ chạy theo những món tiền to (bất chấp luật pháp), coi khinh những đồng tiền bé nhỏ. Để chứng tỏ cho nhau biết mình là kẻ lắm bạc nhiều tiền, họ vất những đồng xu đi không hề suy nghĩ. Nhiều lúc họ thi nhau ném hàng vốc xu vào mấy cái bể nước ở những công trình công cộng để cầu phúc. Ai ném ném nhiều thì phúc nhiều. Xung quanh nhà họ, nơi cống rãnh ngoài đường, người ta cũng có thể dễ dàng nhặt được khối xu bị thất sủng.
  Trái đất như vỡ làm đôi, bão tố số phận ầm ầm đổ tới, xé nát con thuyền đời Tôn Yên ra từng mảnh. Anh chênh chao, ngắc ngứ, vật vã, chơi vơi, huơ đôi bàn tay khẳng khiu, cố gắng tìm một chỗ để bám víu. Anh hụt hẫng, xung quanh anh là chốn không cùng. Chợt hình ảnh người mẹ hiền đang lần giở bao tượng để tìm vài đồng xu mua quà bánh cho chồng con hiện rõ trước mắt Tôn Yên. Anh chạy nhanh về phía bà và cất tiếng gọi “mẹ ơi”. Người mẹ buồn rầu, lặng lẽ nhìn anh. Tay bà cầm chiếc bánh đa vừng đưa cho anh. Chiếc bánh đa vỡ tan bởi những đồng xu do ai ném tới, mang theo tiếng cười ré lên. Bà giật mình, vội vàng biến mất. Anh hốt hoảng lao về phía trước và anh ngã khuỵu xuống. Lúc Tôn Yên tỉnh lại, anh nhận thấy mình đang nằm ở bệnh viện. Bác sĩ cho biết anh bị bệnh tim và thần kinh suy nhược. Anh nằm bệnh viện hai ngày. Trong hai ngày đó, vợ con anh không hề đến thăm anh. Anh buồn tủi cho số phận mình. Khi xuất viện, anh nhìn quanh quất, chẳng một ai đến đón anh cả. Anh tấp tểnh mò ra bến xe buýt. Về đến nhà, anh ngơ ngác chưa kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra. Trước mắt anh là căn nhà trống huếch, trống hoác. Cái ti vi, video đã biến mất. Cái tủ bị lục tung, quần áo của anh bị vất bừa bãi, còn quần áo của vợ con, đồ trang sức của cô ấy và sổ ngân hàng mang tên con anh thì không cánh mà bay. Sau vài phút, anh chợt hiểu tất cả. Anh thực sự đã ngã ngựa rồi. Anh không còn đủ sức leo lên lưng ngựa nữa. Anh nhận rõ mình đã già. Tuổi già đến với anh lúc nào mà anh không hay. “Không! không! Mình phải tìm con về. Mình không thể mất niềm an ủi, niềm hy vọng duy nhất. Mình vẫn phải lo cho tương lai nó kia mà.” Anh chạy như ma đuổi trên đường phố.
  Mười mấy năm qua, kể từ ngày bất hạnh đó, cuốn phim đời lão được chiếu đi chiếu lại không biết bao nhiêu lần với một khán giả duy nhất là lão. Nhưng cứ đến đoạn này là lão không thể thưởng thức tiếp, bởi hai mắt lão đã nhòa lệ. Lão đang khóc cho nhân vật Tôn Yên, cho những người chưa đánh mất hình ảnh người mẹ như người mẹ làng Vân vùng Kinh Bắc ấy. Lão lút cút đi không ra đi, lết không ra lết. Ở tuổi sáu lăm mà tóc lão bạc trắng. Tóc lão bạc nhanh chắc có lẽ cũng bởi cuộc đời đổ lên đầu lão tất cả sự bạc bẽo. Một chiếc lá vàng quăn queo, khô khốc rơi xuống tóc lão. Không biết đây có phải là chiếc lá cuối cùng không? Nó chắc đã vàng từ lâu, nhưng cứ cố bám vào cái cành khẳng khô để luyến tiếc một thời. Hôm nay không hiểu sao lão đi lâu hơn mọi bữa. Lẩn thẩn thế nào mà lão bước ra đến tận phố lớn. Nơi mà hơn một năm nay, lão hầu như chưa đặt chân đến. Ở ngay cái góc ngã tư bên kia đường, có một liên siêu thị nho nhỏ với một hiệu ăn, một hiệu uốn tóc, một hiệu tạp hóa và một cửa hàng rau quả. Nhưng đối với lão, chúng chẳng là gì hết. Bởi lão chưa từng ngẩng đầu lên để thấy.
  “ Ha!Ha! lại một đồng xu nữa kìa. Lão khoái quá, cười ngất. Lần này lão ngẩng mặt lên mà cười. Chợt tiếng cười của lão tắt lịm ngay ở cuống họng. Đồng xu quý hoá tuột khỏi tay lão, lăn thẳng ra đường cái. Sau một phút đứng ngây như trời trồng, lão lao về phía người đàn bà đi cùng một thanh niên cỡ hai mươi tuổi ở phía bên kia đường.
 
“Đúng rồi. Đúng cô ấy rồi. Vậy thằng kia là thằng Ân rồi. Trời ơi! Ân ơi! Con ơi...ơi!” Lão gào lên như con chó già mắc cơn hen.
  Một tiếng két rít lên khủng khiếp. Chiếc xe hơi chạy tốc độ nhanh đang cố gắng phanh gấp, nhưng nó vẫn trườn tới. Mùi nhựa đường cháy bốc lên khét lẹt.
Lão Tôn Yên nằm sấp bất động, đầy máu. Hai cánh tay lão đang vươn tới phía trước như cố nắm bắt ai đó. Một bàn tay thâm đen với năm ngón tay co quắp của lão chạm vào đồng một xu nâu xỉn dính máu ngay giữa tim đường. Tiếng còi xe cứu thương oe oé từ xa vọng tới.
 
Vancouver 1999. 


cô hàng cơm rong





Cô hàng cơm rong

Tặng HH
(kỉ niệm về thăm Hải phòng 1994)


Em khỏa nước
dáng buồn rơi đáy tối.
Tay run run
đong mức sống làm người
nắng chưa kịp cài hoa
trên tóc rối.
Giấc hoa niên chợt thấy
đã qua rồi.


Con ngáp thuốc
mây mù giăng cửa biển.
Chồng say sưa
tiếng nấc nghẹn trùng khơi.
Bóng em gầy
gẫy gập theo từng bước.
vai chênh vênh
lệch nỗi đau đời.

 
Em thương ai
cơm chưa bừng nở hạt
sụt sùi sôi bong bóng nước
lệ đầy.
Thiên hạ đưa em
cái trống không lặng lẽ
đơm cho tròn
em trao lại người đây.


Tan buổi chợ
mình em trơ phố vắng.
Chiều gối thềm
lá rụng tiếng rên câm
má đỏ hoàng hôn
còn say men nắng.
Riêng em
he hé đợi trăng thầm.


Hà chính Bình
05/1997


1 2 3  Sau»