Đỗ Quyên

By Chủ bút: Hà Chính Bình

                 Đỗ Quyên

            Thơ Hà Chính Bình
 
“Tìm về quê hương” như thế nào? 

 
 

Thưa Quý vị và các bạn!

Tôi tin rằng là những người lìa xa quê hương - với các lý do khác nhau – chúng ta mỗi người đều tìm về quê hương theo cách riêng của mình; bởi mỗi người có Trái tim riêng có Bước chân riêng.

Cũng như một vài đề tài muôn thuở của văn học “Tìm về quê hương” là đề tài hầu như thi sĩ nào cũng coi như nằm lòng.

Hà Chính Bình khi ở Việt Nam là một người Việt gốc Hoa cựu sinh viên khoa Luyện kim trường Đại học Bách Khoa Hà Nội ( 1967-1972 ).Hiện tại Canada là người ly hương và ở đâu anh cũng là nhà thơ. Vậy với Hà Chính Bình - anh đeo trên mình sự xa quê hương tới 3 lần!

Chơi với anh hơn 10 năm qua tạp chí Người Việt Hải Ngoại tôi cứ đau đáu tìm xem người thơ này đã “tìm về quê hương” như thế nào?

Thì đây hôm nay nơi trang 55 của tập sách “Hãy Để Chim Chóc Làm Đầy Bầu Trời” mà ta đang có trên tay Hà Chính Bình hiện lên qua bài thơ mang tựa đề “đúng trăm phần trăm” như vậy - “Tìm về quê hương với lời “Kính tặng hương hồn anh Trần Lực – anh yên nghỉ ở Quảng Đông Trung Quốc).

Lỗ Tấn – nhà văn vĩ đại người Trung Hoa - có một câu tự bạch về thuật viết văn của ông đại ý rằng nhân vật của ông có cái tai Quảng Tây cái mũi Bắc Kinh và giọng nói Hà Nam …

Bài thơ của Hà Chính Bình mang tính hiện thực cao khiến tôi – dù là một kẻ cũng làm thơ - cứ nhất mực tin rằng nhân vật “anh” trong bài thơ “trăm phần trăm” là Trần Lực. Tới mức Lỗ Tấn tiên sanh phải giật vai tôi mà nhắc: “Này hậu bối nhân vật “anh” đâu chỉ là Trần Lực còn là cả Hà Chính Bình và là cả chính chú mày nữa đó.” Tôi cho rằng cả Quý vị và các bạn cũng được Lỗ Tấn tiên sanh nhắn nhủ vậy!

Dù mỗi chúng ta có “gia tài” riêng bảo vật riêng về “quê hương”.

Với Trịnh Công Sơn gia tài đó là “khúc nhạc buồn”.

Với anh Trần Lực trong bài thơ đó là:

“Thuở xưa

bố anh viết hai chữ ‘quê hương’

trên một tờ giấy

cất vào vali đã cũ

Rồi một ngày

Ông dán tờ giấy lên tường

bỏ đi

không lời nhắn nhủ”….

Bài thơ được dựng lên từ một tình tiết rất “siêu thực” và bí ẩn nhưng trong lời kể mộc mạc cụ thể. Kịch tính của toàn bài khởi đi từ đây. Và thơ tính của bài cũng là đấy!

Nhân vật “anh” trong bài thơ được truyền lại “gia tài” này khi

“mẹ anh đôi mắt vô hồn

Bàn tay lạnh ngắt

nắm chặt tờ giấy

hai chữ “quê hương’ đã nhàu”

và tới khi

“anh mày chết rồi

Trong túi áo anh mày

…………………

chỉ có tờ giấy nát

và hai chữ quê hương”

Hà Chính Bình sử dụng rất trung thành một thủ pháp làm nên vóc dáng đồ sộ của văn hóa và văn chương Trung Hoa: Sự thực hiện lời truyền của tiền bối. Người con trong bài thơ sau chặng đường tủi nhục và cơ hàn đã cố na thân về quê cha đất tổ. Anh Trần Lực đã yên nghỉ Trung Quốc. Đó là một cách lý giải trong văn học sự “hồi cố quận” của nhà thơ Hà Chính Bình: Chỉ có cái Chết mới là câu trả lời. Dùng cái Chết làm lời đáp trong văn học đó là một thủ pháp rất phổ biến của nhiều tác giả xưa nay.

Về hình tượng thơ trong bài này - giữa những cảnh quang trần trụi – Hà Chính Bình đã cho nổi lên những câu thơ siêu thực nhiều giá trị như

“Người thân là gió hú là mưa sa”

Hay

“Quê hương nào đến từ những đường cong.”

Về thể loại bài thơ “Tìm về quê hương” khiến tôi muốn gợi ý với Quý vị và các bạn rằng một tác phẩm văn học thành công khi ta khó có thể biết nó ở thể loại nào. Nghe như nghịch lý! Vâng tôi ngờ rằng chính Hà Chính Bình đã “chuyển thể” bài thơ này từ một truyện ngắn. Anh dùng các nhát cắt khắc nghiệt của thời gian:

“Rồi một ngày

……………..

“Rồi một ngày

……………..

để thơ hóa các tình tiết các bối cảnh các tình huống các cao trào các lớp nhân vật các lời thoại… Tôi tin rằng mình đúng vì nhà thơ Hà Chính Bình cũng song song là một nhà văn với nhiều truyện ngắn thành đạt.

Có những khuynh hướng lý luận cho rằng thể loại chỉ là phương tiện để sáng tác; Lại cũng có không ít trường phái muốn thể loại là mục đích. Và từ đó cũng sinh ra nhưng lý luận “nước đôi”. Với người sáng tác thì sao? Anh ta có thể “nhất biên đảo” – nghiêng về một phía. Anh ta cũng có thể không cần thuộc về hẳn một lý thuyết sáng tác nào mà “đong đưa” giữa các thái cực. Hà Chính Bình với “Tìm về quê hương” đã cống hiến chúng ta một bài thơ tự sự trong cái “đong đưa” tài ba như thế!

Cuối cùng tôi muốn cùng Quý vị và các bạn thưởng lãm nhịp thơ tự do gập ghềnh trắc trở nhưng định hướng mà Hà Chính Bình thi hành qua bài thơ. Bước chân hồi hương của những kẻ nghèo đói có gia cảnh bất hạnh rõ ràng khác với bước chân của dân lãng du.

“Yên tâm mà đi

Quê cha anh đấy

Củ khoai nướng dở

Rau nhặt ngoài đồng

Thê lương một bóng

Tro tàn đêm đông.”

Cái khác lớn nhất ở đây là kẻ khổ nạn đi để mà đến dù có thể chết – vì đó là Sứ mạng của họ. Trong nghĩa đó họ - những người Tìm Về Quê Hương - là những người hạnh phúc.

Cám ơn nhà thơ Hà Chính Bình! Cám ơn Quý vị và các bạn đã lắng nghe!

30-11-2007

Đỗ Quyên

 

More...

TÌM VỀ QUÊ HƯƠNG

By Chủ bút: Hà Chính Bình





Tìm về quê hương

  Kính tặng hương hồn anh Trần Lực
(anh về TQ 1978 nay anh yên nghỉ ở Quảng đông)

                   

Tôi chưa kịp tiễn anh
chuyến đò chiều.
Hành trang buồn
anh mang được bao nhiêu?


Thuở xưa
bố anh viết hai chữ “quê hương”
trên một tờ giấy
cất vào chiếc vali đã cũ.

 
Rồi một ngày
ông dán tờ giấy lên tường.
bỏ đi không lời nhắn nhủ
không câu giã từ
khi anh lên hai
anh trai tròn chín.


Rồi một ngày
mẹ anh đôi mắt vô hồn
bàn tay lạnh ngắt nắm chặt tờ giấy
hai chữ “quê hương” đã nhàu.
Hai thân gầy ôm nhau
tuổi mười ba và sáu.


Rồi một ngày
bánh xe ba gác* lăn tròn.
Những giọt “quê hương”
rơi chấm phá trên đường
từ hai khuôn mặt ngu ngơ
nắng hun cháy mất tuổi.


Rồi một ngày
tỉnh lại trong nhà thương.
Có người nói
anh mày chết rồi
tai nạn giao thông
trong túi áo anh mày
chỉ có tờ giấy nát
và hai chữ “quê hương”
.

Rồi một ngày
bánh xe ba gác lại lăn tròn.
Chẳng ai nuôi không
người dưng nước lã.
Lòng thương xót không thiếu
nhưng miếng ăn không nhiều.
Mỗi quán nước nửa đêm là nhà.
Người thân là gió hú là mưa sa.


Rồi một ngày
người ta đến lùa những kẻ vô gia cư
đi trồng cói.
Bát ngát mênh mông
đồng chua nước mặn.
Sóng cắn vào bắp chân
để lại vết răng phèn.
Người trồng bao thân cói
để đan bao giấc mơ.
Anh trồng bao thân cói
đan mảnh đời trơ vơ.


Rồi một ngày
anh nhao nhác
như bao người nhao nhác
ghé vào tai nhau thì thầm.
Những bước chân vội vã
bạn thân trở nên xa lạ.
Tiếng còi tầu định kiếp long đong
"quê hương” nào đến từ những đường cong.


Rồi một ngày
trên bờ đê ngàn ngạt gió
nhìn lại phía mờ xa bên sông lấp ló
nón trắng quang dầu thấp thoáng lùm cau
Đây quê hương hay đó quê hương?
Bước mộng du nối tiếp trên đường
Không gian đâu còn chiều ngược lại.


Yên tâm mà đi
quê cha anh đấy.
Củ khoai nướng dở
rau nhặt ngoài đồng
thê lương một bóng
tro tàn đêm đông.


Hà chính
Bình
Vancouver 21/7/2007
------------------------------------------------------------------------
Chú thích: * Xe ba gác là loại xe chở hàng thô sơ ở Bắc Việt nam có hai càng và hai bánh gỗ vành sắt dùng người kéo và đẩy

More...

Tràng Định - Lạng Sơn

By Chủ bút: Hà Chính Bình





Tràng Định – Lạng Sơn


Tóc trắng bồng bềnh phủ bạc vầng trán rêu xanh
Những hốc mắt đen ngòm vọng về quá khứ
Bình minh chợt rạng bên sườn đá lạnh
Có hong khô được nước mắt đêm?


Con đường đá dăm chênh vênh vực sâu
Bước chân lò dò qua từng khoảnh khắc
Anh mong có em.


Dòng sông Kỳ Cùng réo gọi ngàn năm lau lách
Sóng phiêu du thăng trầm cổ tích
Mỏi mòn trôi đâu thoát khỏi đất liền.*


Lạng Sơn Đồng Đăng Na Sầm Tràng Định
Lồng lộng trời mây
Bâng khuâng nhớ biển.
 
 Tràng Định 1968

 Hà chính Bình


 Chú thích: * Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ Trung Quốc
                  chảy qua
Việt nam rồi ngược về Trung Quốc.

More...

ĐỒNG MỘT XU

By Chủ bút: Hà Chính Bình


trái: Hương ; phải: Thu ; giữa: Huyền
Giáng sinh 2007

Đồng một xu

 Truyện ngắn của
Hương Thu Huyền
 
 Lão là ai?
  Lão thuộc dân tộc nào?
  Gia đình vợ con lão?
  Trên đoạn đường phố ngắn ba block cư dân ở đây thường đặt những câu hỏi tương tự như trên với nhau về lão. Nhưng người thì lắc đầu người thì rụt cổ người thì vặn vẹo đôi vai và xòe hai bàn tay ra tỏ ý chịu. Cuối cùng họ chỉ có thể khẳng định lão là dân Á châu.
 Đó là thời gian đầu khi lão xuất hiện ở đoạn phố này cách nay khoảng hơn một năm về trước.
Lúc lão dọn về căn hầm của một ngôi nhà cũ kĩ. Ngôi nhà cũ đến nỗi những người hưởng trợ cấp xã hội những học sinh nghèo nhất cũng chẳng thèm ngó tới. Bởi vậy căn hầm đã từng được đề biển cho thuê hàng năm rồi mà không ma nào lai vãng. Ấy vậy mà lão đến hỏi thuê. Và ngay chiều hôm đó lão dọn vào. Hành trang của lão chỉ là một cái vali rách tàn tạ rất hợp với dáng người lão và căn hầm.
Những người hàng xóm luôn hiếu khách. Trong mấy ngày đầu tiên lão dọn đến đây họ mỉm cười chào hỏi thân thiện mỗi khi lão đi ngang qua nhà họ. Nhưng lão chẳng bao giờ trả lời. Ngay cả ánh mắt lão cũng không hề dọi tới những khuôn mặt hoan hỉ chờ đón của họ. Đầu lão luôn cúi xuống đôi mắt lão chỉ biết làm bạn với mặt đất mồm lão lẩm bẩm như khấn tiên sư nhà lão.
  Có người tò mò hơn tìm chủ ngôi nhà có căn hầm mà lão đang thuê để hỏi cho ra nhẽ. Chủ nhà là một người đàn ông Do thái cũng chỉ biết làm mỗi một động tác là môi dưới bĩu chìa ra dướn đôi lông mày nhô đôi vai lên và nói một câu mà người tìm đến không chờ nghe: “Tôi không rõ tôi chỉ biết tên ông ta là Ton Yen. Còn Ton Yen là Tàu Đại Hàn Nhật Bản Việt nam và là gì gì đi nữa thì chỉ có ông ta họ hàng bạn bè ông ấy và trời biết thôi.”
  Dần dà mọi người cũng đến lúc chán lão không quan tâm sự có mặt của lão nữa. Hình ảnh lão nhạt nhòa dần trong sinh hoạt hàng ngày của họ. Đúng vậy. Trên con phố nhỏ này chỉ có lão và trời biết lão là người Việt nam một người Việt nam duy nhất cư ngụ ở đây. Chưa hề có ai nhìn thấy bất cứ bóng dáng nào đến thăm lão cả. Điêu đó có nghĩa là lão hoàn toàn cô độc. Cái cô độc đang loi ngoi dưới hàng cây phong trơ trụi lá run rẩy hứng cơn gió lạc loài ẩm ướt trong buổi sáng cuối thu như sáng nay.
 Sáng nay như mọi sáng đúng bảy giờ. Bất kể xuân hạ thu đông chỉ trừ ngày mưa bão lớn. Lão xuất hiện trên hè phố. Với cái dáng đi cố hữu lê lết đôi giày vẹt đế đầu cúi gập xuống miệng lắp bắp. Ngôn ngữ khấn khứa của lão là một chuỗi âm thanh lục bục dồn ứ ở cổ họng. Dường như chúng chưa được thoát qua hai hàm răng vàng khè xin xỉn. Lão đang tâm sự với chính lão: “ Thời buổi sao mà đốn vậy. Loạn rồi. Nhiễu nhương quá chứ gì nữa. À này sáng nay lúc sáu giờ nghe loáng thoáng bản tin từ radio về vụ cướp giật xảy ra ngày hôm qua. Lũ nhóc khốn nạn đến thế là cùng. Vì vài đô mà nỡ đánh bà lão đến bị thương ngay trên đường phố. Hừm...ai dạy chúng nó làm vậy nhỉ? À ...phải rồi. Xã hội nhà trường gia đìng chúng dạy chúng là cái chắc. Ờ...ờ cũng khối người lớn làm gương cho chúng nó theo kiểu này chứ lị. Thảo nào. Hỏng hỏng.” Lão mím môi lặng lẽ bước lệt xệt như vậy rất lâu. Lão đang trầm tư mặc tưởng về xã hội về con người và thời thế.
  Sáng nay không mưa nhưng bầu trời đầy mây xám xị̣̣̣̣t. Những mảng mây uống no nước đang lặc lè đè xuống lớp không khí trên mặ̣t đất làm cho cảnh vật như lùn đi bè ra và lòng người thấy nặng nề hơn ảo não hơn. Lão lắc lư cất từng bước. Ai vội gì thì vội chứ lão chẳng việc gì phải vội. Bất chợt lão ngồi thụp xuống chăm chú lấy ngón tay gạt mấy chiếc lá vàng rụng đã lâu đẫm nước mưa từ mấy ngày trước để nhặt một vật gì nho nhỏ dèn dẹt tròn tròn. Lão đặt nó vào lòng bàn tay và thận trọng dùng ngón tay cái của bàn tay kia miết nhẹ lên bề mặt nó. Lão vui hẳn lên. Mép lão khẽ nhếch nụ cười thỏa mãn. Lão nắm chặt lấy nó và thận trọng đút cả bàn tay vào túi áo khoác đã sờn rách. “ Hà hà...đây rồi. Sao người ở đây phí phạm thế nhỉ?” Lão lại lẩm bẩm: “ Họ vất những đồng xu đi kkông hề thương tiếc. Họ làm như hào phóng lắm. Họ sĩ diện hão. Họ tỏ vẻ hào phóng trước mặt nhau. Nhưng sau lưng họ tìm mọi cách để bới xấu nhau. Không khéo những đồng một xu chẳng là những điều xấu xa nếu kẻ nào trong số họ cứ khư khư giữ chúng. Phải vứt chúng đi. Thật là xấu hổ khi mua bán mà cứ phải chìa ra mấy đồng xu đỏ ối ra. Chẳng may bắt gặp người quen chỉ có nước chui xuống đất. Họ không muốn mang tiếng là đồ kiết xác.”
  Lão dừng lại để ho khùng khục khạc thật mạnh. Một búng đờm từ trong cổ họng lão bay ra dính bẹt ngay xuống mặt đất. Lão khẽ lắc đầu và nối tiếp câu chuyện lão đang tâm sự dở: “ đó là một lũ ngu lũ ấy chẳng hiểu gì sất. Đồng một xu tuy nhỏ nhoi xấu xí. Nhưng giá trị của nó là giữ được sự nguyên vẹn của những đồng tiền khác. Không có nó sự nguyên vẹn kia bị phá vỡ tan tác. Hèm... ví dụ à? Được...Này nhé khi ta mua một món hàng trị giá món hàng đó là một đô và một xu. Nếu ta có sẵn trong túi  một xu thì ta không phải phá lẻ đồng một đô khác hoặc hai đô năm đô v.v...thậm chí một trăm đô. Thấy chưa? Đơn giả như vậy đấy.” Lão khoái quá cười hưng hức. Kể cả khi cười lão cũng không ngẩng đầu lên. Người lão chỉ đung đưa mạnh hơn. “ Ấy tin hay không thì tuỳ. Ta nói cho biết thêm một điều này nữa nhé. Đồng một xu không chỉ giữ sự nguyên vẹn những đồng tiền đô mà giá trị của nó còn có thể bảo vệ sự nguyên vẹn một nền văn hóa hay một đạo đức tốt một thuần phong mỹ tục của một dân tộc.” Nói đến đây lão chợt dừng lại trầm ngâm. Đôi mắt lão vẩn lên những tia buồn xa xăm. Lão thở dài: “ nó còn bảo vệ sự nguyên vẹn của một mái ấm gia đình nữa.” Lão thì thầm như rên rỉ.
  Năm 1934 Tôn Yên được sinh ra trong một gia đình còn mang nặng nền nếp nho giáo ở làng Vân vùng Kinh Bắc. Bố anh là một người có vốn nho học cơ bản đồng thời ông có bằng trung học Pháp Việt. Ông từng làm thầy ký cho một cơ sở buôn bán lâm thố sản ở phủ Từ Sơn. Vốn có cảm tình với những người Việt Minh chống Pháp ông ngấm ngầm hoạt động cho họ. Không bao lâu ông bị Pháp bắt. Sau đó chúng thả ông ra vì không đủ chứng cớ để buộc tội ông. Cũng từ đấy ông bị mất việc. Trở về quê sống với vợ con ông trở thành một người thất chí. Nhà ông thuộc loại trung lưu ở nông thôn có vài mẫu ruộng cho tá điền trong làng cày cấy mướn. Mẹ Tôn Yên là một người đàn bà không hề biết việc đồng áng.
  Từ ngày chồng thất nghiệp bà tần tảo chạy chợ từ sáng đến chiều tối. Bà nấu chè đồ xôi gói ít bánh giò đem ra chợ bán. Bà thương yêu chồng con rất mực. Bà chỉ cần nhìn vào đôi mắt của chồng là bà thấu hiểu nỗi băn khoăn day dứt của người đàn ông thất chí. Bà thường an ủi ông bằng những cử chỉ âu yếm nhẹ nhàng mà tha thiết. Bà rất tằn tiện. Thời bấy giờ một hào chỉ cũng đã là to. Bà chạy chợ cả ngày may lắm cũng lời được một hào. Những đồng hào xu được buộc thật kỹ trong cái bao tượng quấn chặt quanh bụng bà. Chiều nào cũng vậy khi đã bán hết hàng bà cẩn thận lần cởi bao tượng để nhặt vài đồng xu tính mua cho ông một be rượu nhỏ được nút bằng lá chuối khô (rượu làng Vân có tiếng là ngon) vài bìa đậu phụ rán vàng hoặc có hôm là một gói lòng lợn gan lợn luộc. Bà cũng không quên mua mấy cái bánh đa vừng giòn tan vài cái kẹo lạc kẹo vừng cho lũ trẻ. Bà thận trọng treo be rượu ở đầu đòn gánh xếp món nhắm của chồng quà bánh của con vào cái thúng không. Niềm vui của bà nhẹ nhàng mà lớn lắm. Bà lâng lâng xốn xang theo từng nhịp bước tưởng tượng lũ trẻ ùa ra đầu ngõ đón mẹ ồn ào náo nức. Chúng hí hửng biết bao khi nhận phần quà từ tay bà. Chúng nhảy tung tăng đem quà khoe nhau dứ nhau rồi cãi nhau ỏm tỏi chí choé. Còn chồng bà sẽ tủm tỉm cười mắt hấp háy khi nhìn thấy be rượu toòng teng ở đầu đòn gánh. Bà nhìn thấy rõ sự thích thú của ông khi ngồi vào mâm cơm tay cầm be rượu một cách trịnh trọng khe khẽ rót vào cái chén con không để rơi ra một giọt nào. Ông tợp một hớp nhỏ rồi khà một tiếng khoái trá. Tay nâng đôi đũa gắp một miếng lòng lợn hoặc gan lợn có lúc là miếng đậu rán chấm mắm ông từ từ đưa lên miệng nhai khẽ khàng từ tốn để thưởng thức hết cái ngon bùi ngọt của nó. Ông vừa nhắm vừa ăn và vừa nhìn bà trìu mến. Bao nhiêu cực nhọc ban ngày tiêu tan hết bà thực sự sung sướng trong cái giản đơn mà sâu đậm tình nghĩa vợ chồng cha mẹ và con cái.
  Tôn Yên có người chị cả hai anh trai và cô em út. Gia đình anh tuy không giàu nhưng bố mẹ anh lo cho con cái đều được học hành. Hạnh phúc đơn sơ nhỏ nhoi đó tưởng như sẽ được lâu dài. Cho đến một ngày đầu đông năm 1942 bố anh đi biệt tích. Hai năm sau có người đưa tin bố anh đã chết bởi bệnh sốt rét rừng sau nhiều ngày lặn lội hoạt động chống Pháp cùng với các đồng chí Việt Minh của ông. Mẹ anh quá đau đớn khóc không thành tiếng. Không đêm nào bà có thể chợp mắt được. Nhưng bà không muốn các con nhìn thấy nỗi đau tột cùng của bà. Vẫn dậy rất sớm như thường lệ sắp xếp hàng vào hai chiếc thúng bà lặng lẽ đẩy cửa bước ra khỏi nhà khi màn đêm vẫn còn phủ kín xóm nhỏ. Những bánh đa kẹo lạc kẹo vừng vẫn được bà mua về cho các con. Năm anh chị em Tôn Yên vẫn cắp sách đến trường hàng ngày.
  Họ lớn lên trong sự biến động của đất nước. Tháng tám 1945 cách mạng tháng tám bùng nổ. Chị và hai anh của Tôn Yên bỏ học. Theo tiếng gọi của Việt Minh họ tham gia đoàn thanh thiếu niên cứu quốc. Đầu năm 1946 hai người anh gia nhập Vệ quốc đoàn rồi Nam tiến. Tôn Yên và em gái ở nhà với mẹ vẫn chịu khó học hành. Anh học giỏi luôn đứng đầu lớp. Hết bậc tiểu học anh được mẹ gửi ra Hà nội học. Năm 1953 anh tốt nghiệp trung học Pháp Việt ở Hà nội.
Cũng chính năm đó phong trào cải cách ruộng đất xảy ra khốc liệt tại quê anh. Mẹ anh vì vài mẫu ruộng mà trở thành địa chủ bóc lột. Tá điền lôi bà ra giữa đình làng đấu tố. Nhưng điều đau đớn nhất cho bà là người con gái  lớn của bà chỉ vào mặt bà nhiếc móc chửi bới thậm tệ. Đứa con gái ấy đã từ bỏ tình mẫu tử không nhận bà là mẹ của nó nữa. Quá uất bà lâm bệnh. Mấy tuần sau bà mất để lại đứa con gái út không nơi nương tựa. Tôn yên được tin dữ anh như điên như dại. Anh lồng lên muốn lao về ngay quê. Mấy người bạn thân của anh phải vất vả lắm mới giữ được anh lại. Bởi lúc bấy giờ đường về quê anh rất nguy hiểm. Thời gian hờ hững trôi Tôn Yên thương em mà không làm sao được. Để kiếm sống anh làm gia sư cho một số gia đình giàu. Tháng mười 1954 quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội. Anh vội vã trở lại làng Vân đón em gái ra Hà Nội. Tiền anh kiếm được bằng nghề dạy học tư không đủ để hai anh em sống. Không lâu sau em gái anh cũng làm con sen trong một gia đình khá giả. Đầu năm 1955 gia đình kia dọn xuống Hải Phòng. Em gái anh theo họ. Mấy tháng sau anh nghe tin em gái di cư vào Nam cùng với gia đình đó. Nỗi buồn lại gậm nhấm tim anh. Anh trở thành con người trầm lặng tránh gặp bạn bè. Đến năm 1957 anh được tuyển vào khoa lý trường đại học Tổng Hợp Hà Nội.
  Mấy năm đầu mới tiếp quản thủ đô chính phủ Việt Minh không đủ con em thành phần công nông cốt cán tốt nghiệp trung học phổ thông. Bởi vậy con em thành phần tư sản địa chủ vào học các trường đại học chuyên nghiệp dễ dàng. Tôn Yên tỏ ra là một sinh viên xuất sắc. Tính anh hiền nên được thầy yêu bạn mến. Đời sinh viên quá nghèo tiền trợ cấp học bổng không đủ ăn chứ đừng nói đến tiền thuốc men khi đau yếu. Một lần anh bị viêm bàng quang bác sĩ cho biết anh phải tiêm thuốc kháng sinh. Nhưng tiền đâu thuốc lại quá đắt. Từ phòng khám đi ra anh rầu rĩ ôm bụng. Chợt mắt anh sáng lên khi nhìn thấy người chị cả của anh sánh vai cùng một người đàn ông mặc quân phục quân đội nhân dân Việt Nam. Anh lớn tiếng gọi. Chị anh và người đàn ông quay đầu lại. Chị nhận ra anh miễn cưỡng kéo theo người đàn ông đi về phía anh đang đứng chờ. Chị giới thiệu người đàn ông với anh. Qua đấy anh mới biết chị giờ là cán bộ phụ nữ huyện Từ Sơn. Còn người đàn ông là thiếu tá cục hậu cần chồng chị. Khi biết anh ngỏ ý muốn vay ít tiền chữa bệnh chị lạnh lùng nói lảng sang chuyện khác và kéo theo chồng vội vã từ biệt. Anh nhìn theo vừa ngạc nhiên vừa xót xa cho thân phận mình. Năm 1962 anh tốt nghiệp loại ưu và được phân công tác về bộ môn vật lý thuộc cơ quan nghiên cứu khoa học nhà nước (sau này là viện vật lý). Trong quá trình công tác anh là một nhân viên cần mẫn giỏi chuyên môn. Nhưng tên anh không bao giờ nằm trong danh sách nghiên cứu sinh sang Liên xô học ở viện hạt nhân nổi tiếng Đúp na. Sau này anh mới rõ nguyên nhân sâu xa là lý lịch của anh không hề đề cập đến số phận của người em gái một dấu hỏi đã được tô thật đậm trong hồ sơ cá nhân anh nằm ở bộ công an. Là một nhà vật lý lý thuyết bị hạn chế trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý hạt nhân anh vô cùng thất vọng. Vì yêu nghề anh vươn lên bằng cách tự nghiên cứu. Chuyên đề anh đặt ra: “ lực hấp dẫn giữa các hạt cơ bản trong hạt nhân nguyên tử ”. Anh đã trở thành tác giả của một phương trình tích phân mười lăm lớp. Anh mừng rỡ. Nhưng công trình đó bị lãnh đạo và đồng nghiệp vứt xó và lãng quên dần. Quá chán nản anh buộc phải gửi đăng trên một tạp chí nguyên tử của Liên Xô. Mấy tháng sau ở Liên Xô người ta biết đến anh như một giáo sư Việt Nam giỏi về ngành vật lý nguyên tử. Trớ trêu thay vì bài báo khoa học ấy anh đã bị phê bình kỷ luật vì tội tiết lộ tài liệu khoa học bí mật của nhà nước. Anh bị chuyển công tác về giảng dạy vật lý ở trường đại học Bách khoa tại chức Hải phòng. Mười năm sau anh kết hôn với một cô giáo trẻ cùng trường. Họ có với nhau một đứa con trai kháu khỉnh. Hạnh phúc đến với anh lớn quá sức tưởng tượng và mong ước làm cho anh choáng ngợp. Anh tạm quên sự bất công mà xã hội dành cho anh trong một thời gian dài. Tháng tư năm 1975 chiến tranh kết thúc đất nước thống nhất. Anh xin phép nhà trường và chính quyền địa phương vào Nam để tìm gặp lại người em gái sau nhiều năm xa cách. Đơn xin của anh bị khước từ. Vì lòng thương nhớ em anh vào Nam bằng giấy tờ giả. Đất lạ người lạ. Địa chỉ em gái do anh nghe mong manh mà có cho nên không chính xác. Mấy tháng trời lang thang nơi phù hoa đô hội số tiền dành dụm bao năm anh tiêu hết mà tin em gái vẫn biệt tăm. May mắn anh gặp lại người bạn cũ thời ở Hà nội trước năm Việt minh tiếp quản thủ đô. Người bạn cũng không biết gì về em gái anh nhưng ít ra anh ta cũng giúp anh một số tiền khá để anh trở về Bắc. Về đến nhà anh mới biết nhà trường đã thi hành kỷ luật vắng mặt anh về tội trốn vào Nam khi không được phép của chính quyền và nhà trường. Anh bị đuổi việc. Kinh tế gia đình trở nên túng quẫn. Đồng lương ít ỏi của vợ không cáng đáng nổi sinh hoạt hàng ngày. Anh quyết định dùng số tiền bạn giúp còn lại để vào Nam mua hàng ra Bắc bán đồng thời có cơ hội tìm em gái. Được vài chuyến thu nhập cũng khá.
  Những đợt dân bỏ nước ra đi bắt đầu được tổ chức vào năm 1978 ở Nam và người Hoa ở Bắc ồ ạt về Trung quốc vì sự hục hặc chính trị giữa hai nước Việt nam Trung quốc. Một số người Hoa trong Nam tìm đường ra Bắc để vượt biên qua ngả Trung hoa. Được sự ủy thác của bạn cũ trong Nam Tôn Yên dẫn một số người Hoa ra Bắc. Việc làm này trót lọt và anh được trả công xứng đáng. Nhưng đợt chuyển người ra Bắc kế tiếp anh bị bắt. Bạn anh chạy chọt hối lộ để bảo lãnh anh ra. Anh trốn về Bắc. Đầu năm 1979 chiến tranh biên giới Hoa –Việt bùng nổ người Hoa ở Bắc cũng như Nam ùn ùn ra biển. Ở Bắc họ đi sang Hương cảng. Ở Nam họ đi tới Thái lan Mã lai Nam dương Tân gia ba. Nhân cơ hội này anh mang vợ con vượt biển tới Hương cảng. Cuối năm 1979 gia đình anh định cư ở thành phố Vancouver Canada. Anh đã tìm thấy tự do ở một đất nước tươi đẹp đầy ắp nhân đạo cưu mang gia đình anh và rất nhiều gia đình Việt nam khác. Anh tâm niệm sẽ mang hết khả năng vốn học thức về vật lý lý thuyết của mình cống hiến cho mảnh đất lành chim đậu này. Anh miệt mài trau dồi Anh ngữ với tấm lòng hồ hởi. Khi Anh văn đã khá anh tự tin vào sức mình lao đi tìm về với ước mơ ngây ngất. Nhưng hình như ở đây không ai quan tâm đến bầu nhiệt huyết của Tôn Yên cả. Họ thờ ơ với kiến thức của anh đến kỳ lạ.
  Lão miên man nhớ lại quãng đời thăng trầm xưa  mà quên mất lão đã vòng đi vòng lại cái phố nhỏ này biết bao nhiêu lần. Lão lại thở dài thườn thượt. Con người lão như teo tóp hơn một chút dáng đi của lão như lệch lạc hơn khuôn mặt lão như méo mó hơn dị dạng khó coi hơn. Cuốn phim đời lão vẫn cứ chạy rèn rẹt trong hộp sọ lão.
  Trong lúc Tôn Yên đang chán cho cái sự đời một vị người Canada gốc Anh là một thành viên trong nhóm bảo trợ gia đình anh giới thiệu anh với một vị giáo sư vật lý của trường đại học UBC. Trao đổi với anh vài giờ vị giáo sư nhìn nhận học thức uyên bác của anh và ông ngỏ ý muốn anh giúp việc cho ông ở phòng thí nghiệm vật lý của trường. Anh mừng lắm. Đã có điểm khởi đầu sau này chắc cũng ổn thôi chịu khó nghiên cứu thêm để bắt kịp kiến thức hiện đại. Thế là anh đã có việc làm tuy không đúng nghề lắm nhưng ít ra cũng là một cơ hội vả lại gia đình anh đang cần tiền để sinh sống. Vừa làm anh vừa tranh thủ thời gian rỗi đến thư viện nhà trường đọc thêm sách. Lúc nào anh cũng có một quyển sổ tay bên người chi chít những phương trình toán học hình cổ ngỗng. Lương nhà trường trả anh cũng khá cuộc sống gia đình đã ổn định. Hàng xóm Tây Tàu  mừng thay cho gia đình anh. Một số người Việt định cư quanh đấy cũng vui vẻ chúc tụng anh. Họ quý mến lẫn cảm phục anh nữa.
  Hai năm trôi qua thật nhanh. Anh bổ sung thêm vào chuyên đề anh đã từng theo đuổi ở Việt nam. Anh viết công trình đó bằng vốn Anh ngữ của mình. Anh say mê đến độ có thể nổi cuồng lên mỗi khi anh phát hiện ra một điều mới mẻ. Anh trân trọng trao bản thuyết minh công trình vào tận tay vị giáo sư khả kính. Thương thay cho một tài năng đất Việt một con chiên ngoan đạo của một tôn giáo vật lý lý thuyết anh đâu có thể ngờ rằng công trình đầy khát vọng của anh vĩnh viễn nằm trong góc tối nào đó và mục nát dần trong tầng hầm của ngôi nhà bề thế. Chị vợ trẻ của anh giờ trở nên vênh váo với mọi người. Chị khẳng định với họ rằng vị trí của chồng chị hiện nay là một trong những nhà vật lý lý thuyết hàng đầu của hoàn vũ. Vợ anh đang kiêu căng trên nỗi đau của một nhân viên chuyyên xếp đặt những thiết bị thí nghiệm vật lý cho sinh viên thực tập ở một trường đại học. Anh đã hiểu anh đang là một kẻ hoàn toàn thất bại. Nhưng anh chuyển hy vọng theo một hướng khác. Anh lao động cần cù hơn nữa cuộc sống giản dị hơn nữa. Anh chắt chiu dành dụm cho tương lai của đứa con trai. Đối với anh kể cả những đồng xu nhỏ nhất cũng sẽ rất tuyệt vời khi chúng biết đóng góp vào cái trương mục mà anh đã dành riêng cho con. Vâng thằng nhỏ cái thằng Ân ấy mà nó cực kỳ thông minh nhất định nó sẽ là một con người xuất chúng. Nó sẽ đạt được niềm vinh quang mà cả một đời bố nó say mê kiếm tìm. Anh thầm nhủ như vậy.
  Thêm hai năm nữa ở xứ người. Một ngày đầu hạ từ trường anh trở về nhà với vẻ mặt ủ rũ báo cho vợ hay anh đã bị thất nghiệp. Thất thần chị vợ lặng tăm trong vài phút rồi như một người phát rồ chị vừa khóc vừa lu loa “ anh là một thằng vô tích sự bất tài không bằng thằng thợ lắp ráp xe đạp thằng làm nghề phân phối tạp chí khiêu dâm ở nhà bên kia”. Anh nghẹn ngào cố gắng giải thích cho chị hiểu sự cắt giảm ngân sách chi tiêu của nhà trường dẫn đến việc cắt giảm nhân viên và hậu quả của nó là anh khỏi phải đi làm bắt đầu từ tuần sau. Chị vợ gầm lên. Chỉ chẳng cần phải hiểu chuyện đó. Chị chỉ cần biết lấy tiền ở đâu ra để thanh toán cho thầy dạy khiêu vũ và vài cái bill trả visa card master card cho đợt sắm nước hoa phấn son tháng trước. Thì ra bao lâu nay người vợ yêu quý của anh đang ném tiền vào chỗ ăn chơi của đám người chưa là trưởng giả đã học làm sang. Đám người ấy luôn đam mê những tiệc tùng thâu đêm suốt sáng. Họ cuồng quay trong những điệu vũ thác loạn. Trẻ chẳng nói làm gì ngay cả những lão những mụ ở tuổi làm ông bà nội ngoại mà vẫn cặp kè dìu dặt ngoáy mông uốn éo cho say cho mệt rồi ôm nhau ngủ bất kể lũ con cháu giương mắt nhìn. Họ chạy theo những món tiền to (bất chấp luật pháp) coi khinh những đồng tiền bé nhỏ. Để chứng tỏ cho nhau biết mình là kẻ lắm bạc nhiều tiền họ vất những đồng xu đi không hề suy nghĩ. Nhiều lúc họ thi nhau ném hàng vốc xu vào mấy cái bể nước ở những công trình công cộng để cầu phúc. Ai ném ném nhiều thì phúc nhiều. Xung quanh nhà họ nơi cống rãnh ngoài đường người ta cũng có thể dễ dàng nhặt được khối xu bị thất sủng.
  Trái đất như vỡ làm đôi bão tố số phận ầm ầm đổ tới xé nát con thuyền đời Tôn Yên ra từng mảnh. Anh chênh chao ngắc ngứ vật vã chơi vơi huơ đôi bàn tay khẳng khiu cố gắng tìm một chỗ để bám víu. Anh hụt hẫng xung quanh anh là chốn không cùng. Chợt hình ảnh người mẹ hiền đang lần giở bao tượng để tìm vài đồng xu mua quà bánh cho chồng con hiện rõ trước mắt Tôn Yên. Anh chạy nhanh về phía bà và cất tiếng gọi “mẹ ơi”. Người mẹ buồn rầu lặng lẽ nhìn anh. Tay bà cầm chiếc bánh đa vừng đưa cho anh. Chiếc bánh đa vỡ tan bởi những đồng xu do ai ném tới mang theo tiếng cười ré lên. Bà giật mình vội vàng biến mất. Anh hốt hoảng lao về phía trước và anh ngã khuỵu xuống. Lúc Tôn Yên tỉnh lại anh nhận thấy mình đang nằm ở bệnh viện. Bác sĩ cho biết anh bị bệnh tim và thần kinh suy nhược. Anh nằm bệnh viện hai ngày. Trong hai ngày đó vợ con anh không hề đến thăm anh. Anh buồn tủi cho số phận mình. Khi xuất viện anh nhìn quanh quất chẳng một ai đến đón anh cả. Anh tấp tểnh mò ra bến xe buýt. Về đến nhà anh ngơ ngác chưa kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra. Trước mắt anh là căn nhà trống huếch trống hoác. Cái ti vi video đã biến mất. Cái tủ bị lục tung quần áo của anh bị vất bừa bãi còn quần áo của vợ con đồ trang sức của cô ấy và sổ ngân hàng mang tên con anh thì không cánh mà bay. Sau vài phút anh chợt hiểu tất cả. Anh thực sự đã ngã ngựa rồi. Anh không còn đủ sức leo lên lưng ngựa nữa. Anh nhận rõ mình đã già. Tuổi già đến với anh lúc nào mà anh không hay. “Không! không! Mình phải tìm con về. Mình không thể mất niềm an ủi niềm hy vọng duy nhất. Mình vẫn phải lo cho tương lai nó kia mà.” Anh chạy như ma đuổi trên đường phố.
  Mười mấy năm qua kể từ ngày bất hạnh đó cuốn phim đời lão được chiếu đi chiếu lại không biết bao nhiêu lần với một khán giả duy nhất là lão. Nhưng cứ đến đoạn này là lão không thể thưởng thức tiếp bởi hai mắt lão đã nhòa lệ. Lão đang khóc cho nhân vật Tôn Yên cho những người chưa đánh mất hình ảnh người mẹ như người mẹ làng Vân vùng Kinh Bắc ấy. Lão lút cút đi không ra đi lết không ra lết. Ở tuổi sáu lăm mà tóc lão bạc trắng. Tóc lão bạc nhanh chắc có lẽ cũng bởi cuộc đời đổ lên đầu lão tất cả sự bạc bẽo. Một chiếc lá vàng quăn queo khô khốc rơi xuống tóc lão. Không biết đây có phải là chiếc lá cuối cùng không? Nó chắc đã vàng từ lâu nhưng cứ cố bám vào cái cành khẳng khô để luyến tiếc một thời. Hôm nay không hiểu sao lão đi lâu hơn mọi bữa. Lẩn thẩn thế nào mà lão bước ra đến tận phố lớn. Nơi mà hơn một năm nay lão hầu như chưa đặt chân đến. Ở ngay cái góc ngã tư bên kia đường có một liên siêu thị nho nhỏ với một hiệu ăn một hiệu uốn tóc một hiệu tạp hóa và một cửa hàng rau quả. Nhưng đối với lão chúng chẳng là gì hết. Bởi lão chưa từng ngẩng đầu lên để thấy.
  “ Ha!Ha! lại một đồng xu nữa kìa. Lão khoái quá cười ngất. Lần này lão ngẩng mặt lên mà cười. Chợt tiếng cười của lão tắt lịm ngay ở cuống họng. Đồng xu quý hoá tuột khỏi tay lão lăn thẳng ra đường cái. Sau một phút đứng ngây như trời trồng lão lao về phía người đàn bà đi cùng một thanh niên cỡ hai mươi tuổi ở phía bên kia đường.
 
“Đúng rồi. Đúng cô ấy rồi. Vậy thằng kia là thằng Ân rồi. Trời ơi! Ân ơi! Con ơi...ơi!” Lão gào lên như con chó già mắc cơn hen.
  Một tiếng két rít lên khủng khiếp. Chiếc xe hơi chạy tốc độ nhanh đang cố gắng phanh gấp nhưng nó vẫn trườn tới. Mùi nhựa đường cháy bốc lên khét lẹt.
Lão Tôn Yên nằm sấp bất động đầy máu. Hai cánh tay lão đang vươn tới phía trước như cố nắm bắt ai đó. Một bàn tay thâm đen với năm ngón tay co quắp của lão chạm vào đồng một xu nâu xỉn dính máu ngay giữa tim đường. Tiếng còi xe cứu thương oe oé từ xa vọng tới.
 
Vancouver 1999. 

More...

cô hàng cơm rong

By Chủ bút: Hà Chính Bình





Cô hàng cơm rong

Tặng HH
(kỉ niệm về thăm Hải phòng 1994)


Em khỏa nước
dáng buồn rơi đáy tối.
Tay run run
đong mức sống làm người
nắng chưa kịp cài hoa
trên tóc rối.
Giấc hoa niên chợt thấy
đã qua rồi.


Con ngáp thuốc
mây mù giăng cửa biển.
Chồng say sưa
tiếng nấc nghẹn trùng khơi.
Bóng em gầy
gẫy gập theo từng bước.
vai chênh vênh
lệch nỗi đau đời.

 
Em thương ai
cơm chưa bừng nở hạt
sụt sùi sôi bong bóng nước
lệ đầy.
Thiên hạ đưa em
cái trống không lặng lẽ
đơm cho tròn
em trao lại người đây.


Tan buổi chợ
mình em trơ phố vắng.
Chiều gối thềm
lá rụng tiếng rên câm
má đỏ hoàng hôn
còn say men nắng.
Riêng em
he hé đợi trăng thầm.


Hà chính Bình
05/1997

More...

có nghe chăng

By Chủ bút: Hà Chính Bình

Có nghe chăng?


Có nghe chăng
tiếng khóc trẻ thơ?


Ngay cả khi
những câu thơ và khúc nhạc tình lượn lờ
len lỏi trong lòng thiếu nữ.


Ngay cả khi
những cơn cuồng mê thác loạn.
Say sưa suốt đêm trường.


Ngay cả khi
miếng cơm manh áo
là giấc mơ cuộc sống đời thường.


Ngay cả khi
thế lực cường quyền
đè nặng tâm hồn thơ dại.


Ngay cả khi
“Không lẽ đời em như thế mãi...”


Và cứ vậy ...
Có nghe chăng
tiếng khóc trẻ thơ?


Ngay cả khi
Chúng chưa kịp chào đời.


 Hà chính Bình
  Vancouver
    12 /2007

More...

nửa vần thơ em

By Chủ bút: Hà Chính Bình

Nửa vần thơ em

Tặng em T.B.H.


Ẩn mình sau góc liếp
Mưa đêm gõ cửa lòng
Trời thu mềm như nến
Nhỏ từng giọt tong tong.


Ru em vào tiểu thuyết
Chuyện tình trong cơn giông
Ướt đẫm tuần trăng mật
Anh dìu em qua đông.


Trời lạnh lắm mây gạn từng giọt nắng
Điểm môi em thêm một chút duyên hồng.
Heo may về lách nghiêng chiều phố vắng.
Đêm - Đôi mình quấn chặt giấc mơ non.


Ta chợt quên nét đau buồn nhân thế
Gắn vào nhau những nụ hôn tròn.
SôngThương - Bao lần nghe anh kể
Bấy nhiêu lần em sợ bóng cô đơn.


Một sớm.
Em giật mình dở giấc
Tiễn chồng đi
Em như kẻ không hồn.
Trên bến lạnh
Sóng ập oà thổn thức
Dội vào em trong đục đôi dòng.
 

Em – Ngọn cỏ úa dần theo nỗi nhớ
Giữa đồng hoang lồng lộng gió ngàn.
Em – Mảnh màu không gian vụn vỡ
Từng phần cuốn mất bởi thời gian.


Nửa vần thơ em giữ
Nửa vần thơ anh mang
Ngơ ngác chiều – Bến đợi
Nửa vần thơ bẽ bàng.
 

 Hà chính Bình
Vancouver 22/6/99 

More...

chuyện ngày mai

By Chủ bút: Hà Chính Bình

Chuyện ngày mai


 Tặng em Trịnh bội Hiền.



Trong mắt em
chưa có chuyện ngày mai.
Chiều chông chênh
ngả vàng trên nóc phố.
Anh vô tình hay vì chẳng nỡ
nhắc đến chuyện ngày mai.


Em dắt anh
men những dãy phố dài.
Đời dung dăng qua từng ô gạch vỡ.
Anh vô tình hay vì chẳng nỡ
nhắc đến chuyện ngày mai.


Chuyện ngày mai
chưa là chuyện chiều nay.
Em mê mải ướp hồn trong hoa nắng.
Hương nhu thoảng đôi bờ vai thấp thoáng
tóc đan chiều
nương gió hương say.


Chuyện ngày mai
chưa là chuyện chiều nay.
Đêm ngơ ngẩn rụt rè về ngõ vắng.
Tầu gọi người
ga giật mình thức trắng
“xin anh đừng nhắc đến chuyện ngày mai.”


Bụi sương thiêm thiếp chấn song ngoài
Em trăn trở nâu nẫu tình ly biệt.
Phút giây trôi
lòng em thêm da diết
mi chớp buồn
lấp loáng ánh sao bay.


Giã biệt em yêu
Chuyện ngày mai chợt đến
Một bàn tay giơ vẫy một bàn tay.


 Hà chính Bình
Vancouver 2001

More...

một thoáng thu

By Chủ bút: Hà Chính Bình







          một thoáng thu


                     mây gợn sóng lòng xô nghiêng vách núi
                     màn trướng rung rinh đan kết long lanh
                     những giọt cường toan của đam mê dan díu
                     đốt cháy vàng hương xanh.


                     Em mải miết giấu lời trối trăn
                     cuả nhiều mảnh tình
                     trong góc quăn từng chiếc lá
                     với vẻ mặt đoan trang thật lạ
                     nhật ký từng đêm trên mỗi vết hằn.


                     Em chẳng dám nói điều em muốn nói.
                     Trời loãng ra bởi từng cơn gió thổi
                     cuốn theo chuỗi buồn thời gian
                     bỏ lại chiều say lớp lớp lá vàng.


                     Em chẳng dám nói điều em muốn nói.
                     Lá rụng lao xao nhiều lời giả dối
                     vật vờ làm kiếp phù sinh
                     héo xác già nua rã rữa xuân tình.


                     Giọt lạnh sương hôm rơi vào cảm xúc
                     Khúc bâng quơ xao xuyến giấc đêm vàng
                     Chẳng phải em đó sao?
                     Phập phồng háo hức.
                     Cửa đóng khung mình – Bức thu hoang.


                     Em bình thản cất lời trăn trối
                     vẻ đoan trang chẳng vội
                     Một thoáng thu qua.


                     Hà chính Bình
                     Vancouver 2001 

More...

EM ĐI TÌM

By Chủ bút: Hà Chính Bình

Em đi tìm


Đời chưa ga cuối
đã đánh mất hành trang.

Em đi tìm
giấc mơ bị bỏ quên
trong căn nhà nhỏ
lỡ dở.

Em đi tìm
tim em bị bỏ quên
trong rừng hoang dã thú
nát vỡ.

Em đi tìm
tình em bị bỏ quên
trên sa mạc khô
cháy đỏ.

Em đi tìm
quá khứ em bị bỏ quên
ở kiếp con người
đau khổ.

 Hà chính Bình
 Vancouver
 17/05/2002

More...